Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Chỉ dẫn cách trình bày powerpoint trong hội nghị khoa học

Chỉ dẫn cách trình bày powerpoint trong hội nghị khoa học    


Trong loạt bài trước, tôi đã bàn về cách viết một bài báo khoa học. Nhưng trong hoạt động khoa học, việc trình bày kết quả nghiên cứu trong các hội nghị cũng quan trọng. Tuy nhiên, tôi thấy rất nhiều đồng nghiệp trong nước chưa quen với những qui ước trình bày báo cáo khoa học, chưa rành cách làm chair, và trong thực tế đã xảy ra nhiều chuyện cười ra nước mắt. Bắt đầu bằng bài này, tôi sẽ đăng một loạt bài về cách trình bày báo cáo khoa học trong các hội nghị.

Trong khoảng 10 năm gần đây, tôi có dịp tham dự và nói chuyện trong nhiều workshop, hội nghị, hội thảo ở trong nước.  Qua những lần như thế tôi phát hiện nhiều bất cập trong cách trình bày một báo cáo khoa học của nhiều đồng nghiệp.  Sau này, tôi có một loạt bài giảng về cách viết và trình bày báo cáo khoa học trong hội nghị.  Đây là loạt bài được soạn ra một cách chi tiết hơn so với những bài giảng trước đây.  Tôi ho vọng loạt bài này sẽ cung cấp vài thông tin và kinh nghiệm có ích cho các đồng nghiệp trong nước.

Trong loạt bài này, tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm cách trình bày báo cáo trong các hội nghị khoa học. Tôi sẽ bàn về khá nhiều chủ đề, từ cách đặt tựa đề bài nói chuyện, đến những qui tắc trong cách soạn bài nói chuyện (như font chữ, kích thước chữ) và cách soạn slide sao cho có hiệu quả nhất.  Hôm nay, tôi sẽ bắt đầu qua thảo luận cách đặt tựa đề.

Tựa đề

Tựa đề của một báo cáo khoa học hay một bài nói chuyện cũng giống như là một dòng chữ … quảng cáo.  Cũng như chuyên gia quảng cáo, diễn giả muốn có nhiều người chú ý đến bài nói chuyện của mình, muốn cử tọa hấp dẫn với nội dung của bài nói chuyện.  Để đạt được mục đích đó, cách hay nhất trong đặt tựa đề bài nói chuyện là phải đầy đủ, nhưng không quá phức tạp mà cũng đừng quá chung chung.  Tựa đề phức tạp làm người nghe không còn hấp dẫn.  Tựa đề chung chung làm người nghe không có động cơ để theo dõi và không tập trung.  Sau đây là vài chỉ dẫn cụ thể về cách đặt tựa đề sao cho hấp dẫn người nghe.

1.  Slide đầu tiên

Bài nói chuyện dĩ nhiên bắt đầu bằng slide đầu tiên, thường là slide tựa đề.  Không có qui ước nào đặt tựa đề bài nói chuyện, nhưng 2 thông tin quan trọng nhất cần phải có là:

   1. Tựa đề bài nói chuyện
   2. Tác giả và nơi làm việc

Tựa đề thường viết bằng font chữ 40 trở lên để cử tọa dễ đọc.  Ngoài ra, tôi thấy một số báo cáo, nhất là báo cáo viên là nghiên cứu sinh, còn cung cấp thêm các thông tin như:

   3. Tên và ngày hội nghị
   4. Danh sách đồng tác giả
   5. Tên và logo của trung tâm nghiên cứu
   6. Tên của thầy/cô hướng dẫn
   7. Cảm tạ
   8. Cơ quan tài trợ
   9. Hình ảnh nền (background image)

Thông tin 3 có khi cần thiết, vì nó cho thấy báo cáo viên có đầu tư thời gian để soạn tài liệu cho hội nghị.  Trong thực tế, có nhiều báo cáo viên rất lười biếng, họ sử dụng một bài nói chuyện từ hội nghị này sang hội nghị khác, chẳng có thông tin gì mới.  Cách làm lười biếng như thế rất phản tác dụng, vì người nghe chẳng những xem thường diễn giả, mà còn cảm thấy mất thì giờ đi nghe những thông tin cũ.

Thông tin 5-7 có khi không cần thiết.  Thật vậy, có thể nói phần lớn người nghe chẳng cần biết tên hay logo của trung tâm, hay tên của thầy cô, hay cảm tạ.  Tuy nhiên, những thông tin này có khi làm cho thầy cô và đồng nghiệp … hài lòng.  Nó còn cho thấy tác giả là người “biết điều”, ăn ở có trước có sau, chứ không phải vô ơn.
Thông tin 8 (tên cơ quan tài trợ) cũng có khi quan trọng. Có hội nghị yêu cầu tác giả phải nói rõ cơ quan tài trợ, và phải tuyên bố những mâu thuẫn lợi ích (conflict of interest) ngay từ slide đầu tiên để cử tọa biết.
Thông tin 9 (hình nền) có thể làm cho slide hấp dẫn hơn, nhưng cần phải chú ý đến hình ảnh.  Thông thường, hình ảnh nền là những yếu tố của công trình nghiên cứu, hay hình (có khi là bản đồ chỉ trung tâm nghiên cứu – nếu có gì để “khoe”).

Cần lưu ý rằng slide đầu tiên không nên cung cấp quá nhiều thông tin.  Nhiều thông tin trong slide như thế rất dễ làm cho cử tọa bị sao lãng.  Tùy theo hội nghị và tùy theo yêu cầu, chỉ cần tựa đề và tên tác giả có lẽ là đủ.

2.  Bỏ những câu chữ rườm rà

Một khi đã quyết định tựa đề bài báo cáo, tác giả cần phải xem xét lại một cách cẩn thận.  Cần phải xóa bỏ những từ rườm rà, vì những từ này có thể làm cho người nhìn khó lãnh hội vấn đề.  Thử xem qua những tựa đề sau đây:

    * The ligno-cellulose biomass fuel chain: a review
    * A study on producing bread in Andalucia with the acid moisture technique
    * Development of a Portable Device for Work Analysis to Reduce Human Errors in Industrial Plants

Tựa đề thứ nhất có thể thích hợp cho một bài báo, nhưng không thích hợp cho bài nói chuyện.  A review không cần thiết ở đây, vì tác giả có thể nói.  Tựa đề thứ hai thì thừa chữ A study on. Tương tự, trong tựa đề thứ ba có cụm từ Development of cũng là thừa, vì tác giả có thể đề cập khi nói chuyện.  Do đó, những tựa đề trên có thể sửa lại như sau:


    * Ligno-cellulose biomass fuel chain
    * Producing bread in Andalucia with acid moisture technique
    * A Portable Device for Work Analysis to Reduce Human Errors in Industrial Plants


3.  Tránh tựa đề mang tính quá kĩ thuật


Như đề cập trên, tựa đề bài nói chuyện như là một cái quảng cáo sản phẩm.  Do đó, nên để ý đến cách viết tựa đề hấp dẫn.  Một tựa đề hấp dẫn có khả năng thu hút sự chú ý của khán giả trong hội nghị. Người dự hội nghị thỉnh thoảng xem các bài nói chuyện ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ, nhưng họ có thể nghĩ rằng những kiến thức và kết quả trong bài nói chuyện có thể giúp ích cho lĩnh vực nghiên cứu của họ.  Do đó, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề sao cho khán giả cảm thấy gần gũi, không quá chi tiết kĩ thuật.

Chúng ta thử so sánh những tựa đề sau đây:

Tựa đề quá kĩ thuật
    Tựa đề hấp dẫn hơn
A Pervasive Solution for Risk Awareness in the context of Fall Prevention in the Elderly
    A Novel Solution for Preventing Fall in the Elderly
An evaluation of the benefit of the application of usability and ergonomics principles to consumer goods
    Ergonomics of consumer goods: an evaluation of benefits
Construction and validation of a carrier to shuttle nucleic acid-based drugs from biocompatible polymers to living cells
    Method for transferring nucleic acid-based
drugs from biocompatible polymers to living cells


Chú ý trong những tựa đề mang tính kĩ thuật, không có động từ.  Khi sửa tựa đề tôi cố gắng cho một động từ vào.  Tựa đề có động từ rất “lợi hại” trong báo cáo khoa học bằng miệng, bởi vì động từ cho chúng ta một cảm giác động.  Danh từ không cung cấp một ý nghĩa động.  Chú ý rằng động từ chỉ thường sử dụng cho bài nói chuyện, chứ không phải cho bài báo khoa học.

4.  Dùng tựa đề với 2 phần

Tựa đề 2 phần cung cấp thêm thông tin cho khán giả.  Do đó, một “chiến lược” gây chú ý là dùng tựa đề gồm 2 phần, và cách nhau bằng một dấu “:” hay "–".  Thử so sánh vài tựa đề sau đây:

Tựa đề một phần
    Tựa đề hai phần
Preparation, characterization, and degradability of low environmental impact polymer composites containing natural fibers
    Preventing Italy from disappearing under polyethylene bags: Using low environmental impact polymer composites
Anti-tumor activity of bacterial proteins: study of the p53-azzurine interaction
    Azzurrine binds to p53: Towards a nontoxic alternative to chemotherapy
The discoursal construction of audience identity in undergraduate assignments
    Discoursal construction of audience identity in undergraduate assignments: Who, What, How


5.  Không nên quá súc tích — dùng động từ, giới từ


Chúng ta thử đọc tựa đề sau đây:

An innovative first-year PhD student scientificEnglish didactic methodology


Thoạt đầu, tựa đề xem ra hàm chứa một ý nghĩa, nhưng khi đọc xong thì hình như nó có ý nghĩa khác.  Vấn đề ở đây là tác giả đã dùng cấu trúc tính từ + danh từ + danh từ như là tính từ.  Cụm tính từ first-year PhD student scientificEnglish didactic chính là … thủ phạm. Tính từ innovative là đề cập đến methodology, chứ không phải first-year PhD student.  Do đó, một tựa đề dễ đọc hơn có lẽ là:


An innovative methodology for teaching scientific English to first-year PhD students


Từ bài học trên, chúng ta rút ra kết luận rằng một tựa đề tốt phải:

    * Đặt tính từ trước danh từ nó đề cập đến (như innovative đề cập đến methodology chứ không phải students)
    * Có một động từ (teaching)
    * Dùng giới từ (for, to)

Một số ví dụ sau đây có thể minh họa cho nguyên lí trên.

Tựa đề không có động từ
    Tựa đề có động từ
The implementation of sustainable strategies in multinational companies
    Implementing sustainable strategies in multinational companies
TOF-SIMS: an innovative technique for the study of ancient ceramics
    TOF-SIMS: an innovative technique for studying ancient ceramics
Fault detection of a Five-Phase Permanent-Magnet Motor - a four-part solution
    Four ways to detect faults in a Five-Phase Permanent-Magnet Motor
Effect of crop rotation diversity and nitrogen fertilization on weed management in a maize-based cropping system
    How does crop rotation diversity and nitrogen fertilization affect the way weeds are managed in a maize-based cropping system?

6. Kiểm tra văn phạm!

Các qui tắc về văn phạm, nhất là cách dùng mạo từ (a, an, the), là vấn đề “nhức đầu” cho nghiên cứu sinh và nhà khoa học không quen với tiếng Anh.  Một số qui tắc văn phạm cũng có thể áp dụng cho cách đặt tựa đề.  Chúng ta thử xem qua ba tựa đề dưới đây:

Multimodality in the context of Brain-Computer Interface

Importance of role of planning and control systems in supporting interorganizational
relationships in health care sector

Iran Foreign Policy

Tựa đề thứ nhất có lẽ thiếu danh từ số nhiều (interfaces).  Tựa đề thứ hai thiếu mạo từ.  Tuy mạo từ ít khi nào dùng trong tựa đề, nhưng nếu một tựa đề dài như trên thì mạo từ cũng cần thiết.  Tựa đề thứ ba có vấn đề về hô ngữ (apostrophe).  Có thể sửa lại như sau:

Multimodality in the context of a Brain-Computer Interface/of Brain Computer
Interfaces


The importance of the role of planning and control systems in supporting interorganizational relationships in the health care sector


Iran’s Foreign Policy


7.  Kiểm tra chính tả

Tựa đề của một bài nói chuyện dứt khoát không để sai chính tả.  Điều này rất hiển nhiên, nếu đó là bài nói chuyện về luận án, hay một công trình nghiên cứu.  Tuy nhiên, tìm ra lỗi chính tả trong một tựa đề có khi đòi hỏi thời gian, nhất là đối với tác giả không quen với tiếng Anh như là tiếng mẹ đẻ.  Chúng ta thử xem xét những tựa đề sau đây:

The Rethoric of Evil in German Literature

Governance choice in railways: applying empirical transaction costs economics to the the railways of Easter Europe and the former USSR

Hearth attack! Cardiac arrest in the middle aged

Trong tựa đề đầu tiên, rethoric có vẻ không sai, bởi vì nó hao hao giống cách phát âm (mà đúng ra phải là rhetoric).  Trong tựa đề thứ hai và thứ ba, từ đúng đáng lẽ phải là Eastern và Heart. Trong trường hợp này, không có phần mềm nào có thể phát hiện Easter và Hearth. Ngoài ra, sự lặp lại (the the) cũng có khi khó phát hiện.  Những tựa đề trên có thể sửa lại:

The Rhetoric of Evil in German Literature

Governance choice in railways: applying empirical transaction costs economics to the railways of Eastern Europe and the former USSR

Heart attack! Cardiac arrest in the middle aged

8.  Suy nghĩ một tựa đề khác thay thế

Trong một hội nghị, khán giả phải nghe và nhìn nhiều bài báo cáo.  Những bài báo cáo thường có cấu trúc với tựa đề như Introduction - Methodology - Discussion - Conclusion and Future Work - Thank you for your attention - Any questions? Nếu bài báo cáo của mình được sắp xếp vào buổi cuối cùng của hội nghị, hay vào buổi trưa / chiều (tức là khán giả rất dễ … buồn ngủ), tác giả cần phải suy nghĩ cách hấp dẫn khán giả.

Một cách để không cho khán giả ngủ là không dùng những tựa đề Introduction - Methodology - Discussion – Conclusion.  Thay vì dùng những tựa đề đó trên slide, tác giả có thể đặt tựa đề sao cho mỗi slide chỉ có 1 điểm (point) duy nhất.  Chẳng hạn như nếu tôi trình bày ảnh hưởng của vitamin D đến tử vong, tôi có thể mở đầu phần dẫn nhập bằng slide với tựa đề Vitamin D and mortality – current literature. Thay vì slide là Conclusion tôi có thể viết tựa đề là Vitamin D and mortality in post-fracture mortality.  Cách viết tựa đề như thế làm cho bài báo cáo là một câu chuyện, và nó làm cho mình professional hơn, hoàn toàn khác với đám đông.

Một cách khác để đặt tựa đề cho từng phần là:

Outline: Why? Why should you be excited?

Methodology: How? Don’t try this at home

Results: What did we find? Not what we were expecting

Discussion: So what? Why should you care?

Future work: What next? Men at work
Thank you: That’s all folks. See you in the dinner table!
http://nguyenvantuan.net/english/1269-chi-dan-cach-trinh-bay-powerpoint-trong-hoi-nghi-khoa-hoc-

Trích dẫn và đạo văn

Trích dẫn và đạo văn    

Entry này được viết ra chỉ vì câu bình luận sau đây trên báo Người lao động: “Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn.” Thật ra, không có qui định nào như thế cả. Khoa học là bình đẳng.


Vấn đề đạo văn ở Việt Nam là vấn đề thời sự.  Tháng 10 năm ngoái xảy ra một vụ tai tiếng về một nhóm tác giả với 3 bài báo khoa học bị rút lại sau khi đã công bố trên một tập san quốc tế.  Trước đó, cũng xảy ra nhiều vụ tai tiếng chỉ giới hạn trong nước, và theo thời gian chìm vào quên lãng.  Nhưng mới đây báo Người lao động nêu vấn đề đạo văn qua vài trường hợp cụ thể.  Những trường hợp được nêu có lẽ chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm.  Nạn đạo văn ở nước nào cũng khá phổ biến, nhưng ở nước ta cường độ thì có lẽ cao hơn nhiều so với các nước khác.  Vấn đề là chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân và “yếu tố nguy cơ” để có biện pháp giảm tình trạng đạo văn.

Khi nào cần trích dẫn ?

Một trong những nguyên nhân của đạo văn là không biết trích dẫn.  Kinh nghiệm của tôi cho thấy nhiều học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thậm chí … giáo sư chưa quen với phương pháp trích dẫn.  Điển hình cho hiểu lầm về trích dẫn là phát biểu sau đây mà bài báo trên Người lao động trích nguyên văn: “Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai.” Tôi e rằng người phát biểu câu này nói hơi … quá lời.  Thật ra, không có nguyên tắc nào đòi hỏi người ta phải trích dẫn nếu sử dụng chỉ 1 từ cả, ngoại trừ đó là một thuật ngữ đặc biệt chưa được nhiều người biết đến.  Tuy nhiên, có qui ước: khi dùng hay sao chép hơn 3 hay 4 từ liên tục từ một nguồn thì cần phải để trong ngoặc kép hoặc đề nguồn.

Một hiểu lầm khác cũng xuất hiện, khi có ý kiến rằng “Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận.”  Tôi có thể khẳng định rằng không có qui định thành văn hay bất thành văn nào như thế cả.  Rất nhiều tập san khoa học quốc tế không cho phép tác giả đề học vị và chức danh.  Do đó, một công trình nghiên cứu trên tập san khoa học như thế, làm sao chúng ta biết tác giả đó có bằng cử nhân hay tiến sĩ?  Thật ra, khoa học rất bình đẳng trong tri thức, và trích dẫn trong khoa học không phân biệt đẳng cấp và học vị của tác giả của nguồn thông tin.

Vậy câu hỏi đặt ra là khi nào thì cần phải trích dẫn?  Theo qui định chung, tác giả cần phải trích dẫn và cung cấp tài liệu tham khảo khi:



    * Lấy nguyên văn một câu hay đoạn văn.  Đây là nguyên tắc mà có lẽ ai cũng biết.  Ví dụ:


A WHO Expert Consultation states that “overweight (≥ 25 kg/m2) corresponded to 31-39%” (WHO Expert Consutation, 2004).
thì câu viết nghiêng là nguyên văn của bản báo cáo, và thông tin trong ngoặc đơn là nguồn báo cáo, thường là tác giả và năm công bố.

    * Tóm lược và diễn đạt lại ý của tác giả gốc. Trong khoa học thực nghiệm, ít khi nào nhà khoa học chịu lấy nguyên văn của tác giả khác (vốn rất phổ biến trong khoa học xã hội), mà chỉ viết lại ý chính của tác giả trước, ví dụ như:

Low bone mineral density is a robust risk factor for fragility fracture (Nguyen et al, 1997)
Trong câu trên, câu Low bone mineral density is a robust risk factor for fragility fracture là câu văn của tác giả bài báo tóm lược ý chính trong bài báo của Nguyen và đồng nghiệp công bố vào năm 1997.

    * Trích những dữ liệu thống kê.  Vì con số thống kê là trái tim, là linh hồn của một bài báo khoa học, nên nếu tác giả trích con số của người khác thì phải cung cấp nguồn rõ ràng.

The prevalence of osteoporosis in Asian women aged 50 years and above ranged between 17% and 30% [1]
Ngay cả những con số đơn giản cũng phải đề nguồn:
Recent statistics indicated that during 1997-2004 there were ~48,500 cases of TB (or 70 per 100,000 population), and the incidence increased by around 0.2% per year, which occurred mainly in rural areas [3]
Trong cả hai ví dụ trên [1] và [3] là số của tài liệu tham khảo được liệt kê trong phần tài liệu tham khảo.

    * In lại những biểu đồ, hình ảnh.  Bất cứ hình hay biểu đồ nào được in lại trong sách, hay trong một bài báo khoa học, hay trong một slide mà không phải của tác giả thì bắt buộc phải đề nguồn.

    * Trình bày những diễn giải mang tính tranh cãi.  Một dữ liệu hay kết quả có thể được hiểu và diễn giải bằng nhiều cách khác nhau, vì người diễn giải dựa vào lăng kính khác.  Do đó, những diễn giải dữ liệu vẫn còn trong vòng tranh cãi cũng cần phải được trích dẫn và ghi nguồn.  Ví dụ:

The relationship between animal protein and bone health has been controversial.  It has long been hypothesized, but remained to be confirmed, that a high animal protein diet exerts a negative effect on bone health, because it generates a high endogenous acid load that would require buffering from bone, thus increasing bone resorption [10]

    * Trình bày kết quả nghiên cứu của người khác. Trong bài báo khoa học, có khi tác giả cần phải so sánh với kết quả của đồng nghiệp, và trong trường hợp này thì phải cung cấp tài liệu tham khảo.  Ví dụ:

The present result is consistent with a previous observation that each standard deviation decrease in BMD was associated with a 1.45-fold increase in the risk of osteoporotic fracture (Kanis, et al, 2005)

Khi nào không cần trích dẫn ?

Ai cũng biết rằng bất cứ tác giả đề cập đến thông tin từ ngoài thì tác giả phải trích dẫn nguồn thông tin.  Nhưng cũng có trường hợp tác giả không cần phải đề nguồn.  Có hai trường hợp chính:

Lí luận, ý tưởng hay thông tin của chính tác giả. Trường hợp này quá hiển nhiên.  Nếu là phát kiến của chính tác giả thì không cần trích dẫn.

Thông tin là một “common knowledge”, tức hiểu theo nghĩa “nhiều người biết”.  Những thông tin được xem là kiến thức phổ quát thì không cần trích dẫn.  Nhưng xác định thế nào là kiến thức phổ quát có khi không dễ dàng chút nào, bởi vì đường ranh giữa kiến thức phổ quát và kiến thức cần trích dẫn, mà ngay cả các chuyên gia về đạo văn cũng không đồng ý với nhau.  Chẳng hạn như nếu tôi viết Smoking is a cause of lung cancer thì có lẽ ai cũng đồng ý là common knowledge, nhưng vẫn có người trong khoa học đòi hỏi câu đó phải được trích dẫn nguồn.

Mặc dù không có tiêu chí cụ thể thế nào là kiến thức phổ quát, nhưng có 2 tiêu chí thường được sử dụng thường xuyên là: lượng thông tin và sự phổ biến. Trước hết là lượng thông tin.  Nhiều chuyên gia cho rằng một thông tin được xem là phổ quát nếu thông tin đó có thể tìm thấy từ 5 nguồn độc lập.  Kế đến là tiêu chí về phổ biến liên quan đến thông tin đó đã được nhiều người trong chuyên ngành biết hay chấp nhận.  Ví dụ câu

Many countries require that food labels announce genetically modified ingredients
được xem là common knowledge, và tác giả không cần trích dẫn.

Tương tự, Smoking is a cause of lung cancer có thể không cần trích dẫn, nhưng nếu viết cigarette smoking is associated with a three-fold increase in the risk of lung cancer thì cần phải trích dẫn, bởi vì có đề cập đến con số ở đây.  Tương tự, nếu câu

Previous research has shown that the slower kinetics observed during transitions from an elevated baseline metabolic rate were related to a slower adjustment of cardiac output and hence muscle O2 delivery

cũng cần trích dẫn, bởi có chữ research.  Bất cứ lúc nào có chữ research hay study, hay bàn về nghiên cứu của người khác, cần phải trích dẫn nguồn.

Nhận dạng đạo văn

Cần phân biệt trích dẫn và đạo văn.  Đạo văn được Hội giáo sư đại học Mĩ (American Association of University Professors) định nghĩa là lấy ý tưởng, phương pháp, hay chữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả.  Còn trích dẫn dưới hình thức viết lại ý của tác giả gốc là một hình thức diễn tả lại ý tưởng chính của đoạn văn gốc bằng một đoạn văn rất cô đọng và rất chung chung, mà không hẳn dùng lại những chữ của tác giả gốc.  Tuy nhiên, nếu không cẩn thận thì trích dẫn, cho dù có đề nguồn, vẫn có thể bị phạm tội đạo văn.  Chúng ta thử so sánh hai câu văn sau đây, bên trái là bản gốc, và bên phải là bản viết lại theo cách diễn giải và có trích dẫn.  Câu hỏi là tác giả có phạm tội đạo văn hay không?

Bản gốc:
There's a new class of worker out there: Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff. Or nanobots, for short. Empowered by their mobile devices and remote access to the corporate network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Different from mobile workers, who usually stay in close contact with managers, nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted. Found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives, they are self-starting high achievers who produce strong results with a minimum of supervision. Allowed to find their own equilibrium between work and private lives, they tend to put work first.
    Diễn giải 1:
Did you know there’s a new class of worker out there? Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff—or, more simply, nanobots (Pauleen and Harmer, 2008). Empowered by their mobile devices and remote access to the company network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Unlike mobile workers, who usually stay in close contact with managers, “nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted,” (2008, par.2). Interestingly, they are high achievers who are self-motivated and produce good results with little supervision. They are found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives. Allowed to find their own balance between work and personal lives, they usually put work first (2008).
Pauleen, D. & Harmer, B. (2008, Dec. 15). Away from the desk...always. Wall Street Journal Digital Network. Retrieved Dec. 22, 2008, from http://online.wsj.com/article/SB122911032462702387.html


Theo các chuyên gia, tác giả phạm tội đạo văn, vì gây ấn tượng cho người đọc rằng bản văn gốc đã được diễn giải lại, nhưng trong thực tế đã lấy nhiều câu văn của bản gốc.  Những đoạn gạch đích dưới đây là những đoạn tác giả mượn văn của bài gốc:

Did you know there’s a new class of worker out there? Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff—or, more simply, nanobots (Pauleen and Harmer, 2008). Empowered by their mobile devices and remote access to the company network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Unlike mobile workers, who usually stay in close contact with managers, “nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted,” (2008, par.2). Interestingly, they are high achievers who are self-motivated and produce good results with little supervision, They are found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives. Allowed to find their own balance between work and personal lives, they usually put work first (2008).

Có một qui ước chung là khi tác giả sử dụng một loạt 3 câu văn liền của bản gốc mà không để trong ngoặc kép là có thể mang tội đạo văn.

Ví dụ trên cho thầy để tránh đạo văn, tác giả cần phải luyện kĩ năng để tự diễn giải thông tin gốc.  Có 3 cách để diễn giải thông tin hay câu văn gốc: thay đổi cấu trúc câu văn, dùng những từ đồng nghĩa, và thay đổi dạng của câu văn.  Sau đây là vài ví dụ:

Thay đổi cấu trúc câu văn. Đây là cách diễn giải tốt nhất để tránh đạo văn.  Tác giả cần phải đọc đoạn văn gốc vài lần cho đến khi hiểu được ý nghĩa, rồi sau đó viết lại bằng chữ của mình.  Ví dụ:

Bản gốc của Mueller and Hancock (2001):
Instead of analyzing data with an exploratory factor analysis (where each item is free to load on each factor) and potentially facing a solution inconsistent with initial theory, a CFA can give the investigator valuable information regarding the fit of the data to the specific, theory-derived measurement model (where items load only on the factors they were designed to measure), and point to the potential weakness of specific items.
    Viết lại:
If the focus of the investigation is the connection between data and the theoretical model being used for measuement, a CFA is a better choice than an exploratory factor analysis, as the CFA is more likely to provide results that show the connection between data and theory (Mueller and Hancock, 2001)

Dùng từ đồng nghĩa. Cũng có khi câu văn ngắn nên viết lại cũng khó khăn.  Trong trường hợp này, có thể thay thế những từ đồng nghĩa.  Ví dụ:

Bản gốc của Johnson et al (2008):
Optimizing peak bone mass during the early years is thought to be a key factor in preventing osteoporosis later in life.
    Viết lại:
To prevent osteoporosis,  experts believe it is important to build bone mass before adulthood (Johnson et al., 2008).


Thay đổi cách dạng của câu văn. Thông thường một câu văn ngắn có thể thay thế bằng cách đổi từ văn thụ động sang chủ động (hay ngược lại) và thay đổi từ.  Chẳng hạn như:

Earth-friendly products are being purchased more often by consumers
    Increasing, shoppers are choosing to buy environmentally safe products

Trích dẫn và diễn giải là hai hình thức rất phổ biến trong văn chương khoa học để tránh đạo văn.  Trích dẫn có lẽ không khó, nhưng diễn giải thì khó hơn vì đòi hỏi tác giả phải am hiểu ngữ vựng tiếng Anh, hiểu ý nghĩa câu văn gốc, và có kĩ năng cách một cách trôi chảy.  Ở đây, tôi thấy cần phải nhắc lại hai điểm mà tôi đã đề cập trong phần đầu để tránh ngộ nhận: không ai đòi hỏi phải trích dẫn nếu chỉ dùng một từ của bản văn gốc, và không có qui định nào nói rằng chỉ trích dẫn những tác giả có học vị cao hơn mình.  Khoa học là một hoạt động bình đẳng.  Người có công phát kiến, bất kể có văn bằng gì, sẽ được ghi nhận qua trích dẫn và tham khảo một cách hợp lí.  Đó chính là một nét văn hóa khoa học chẳng xa lạ gì với người Việt chúng ta: nói có sách, mách có chứng.

NVT
======


http://nld.com.vn/20110416094351456p0c1017/bi-hai-luan-an-luoc.htm
Bi hài luận án “luộc”

Thứ Bảy, 16/04/2011 21:52

Không ít luận án tiến sĩ đã qua mắt được hội đồng bảo vệ nhưng lại là luận án “luộc” với nhiều chuyện bi hài

Tiến sĩ (TS) Trần Thị Mai Nhân, giảng viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, rất bức xúc khi luận văn thạc sĩ của mình về đề tài văn học Việt Nam trong chiến tranh đã bị nghiên cứu sinh tên K., giảng viên của một trường ĐH khác, sao chép nguyên văn rất nhiều đoạn để đưa vào luận án TS của ông ta mà không hề có một dòng trích dẫn.

Đạo văn do...chưa có kinh nghiệm!

Trong luận án TS của ông K., phần phụ lục cũng không hề có dòng nào về việc tham khảo tài liệu của TS Mai Nhân. Điều đáng nói là sau khi bảo vệ thành công luận án TS năm 2000, ông K. đã trích một phần luận án để in thành sách, phát hành vào năm 2006. Khi cầm trên tay cuốn sách này, TS Mai Nhân mới té ngửa bởi công trình chính mình viết ra được tác giả “cóp” nguyên văn nhiều đoạn.

“Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai. Trong khi đó, ông K. dùng nguyên văn khá nhiều đoạn trong luận văn của tôi mà không hề có một dòng trích dẫn thì thật khó chấp nhận” - TS Mai Nhân bức xúc.

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông K. lý giải khi làm luận án TS - cách đây 15 năm - ông còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. “Tôi thừa nhận đã sơ suất khi dùng luận văn của TS Nhân mà không trích dẫn. Một người bạn đã photocopy giùm tôi cuốn tài liệu này nhưng lại không có bìa. Lúc đó, vấn đề tôi nghiên cứu còn có nhiều tranh cãi, tôi đọc được cuốn tài liệu này thấy rất tâm đắc nên sử dụng một số đoạn mà không biết tác giả là ai”.

Ông K. cho biết khi TS Mai Nhân lên tiếng, ông mới biết đã sử dụng luận văn của bà. “Tôi đã viết thư xin lỗi TS Nhân và sẽ mua lại toàn bộ sách đã xuất bản của mình còn lại ở các nhà sách. Nếu tái bản, tôi sẽ phải bỏ hoàn toàn những đoạn sử dụng trong luận văn của TS Nhân” - ông K. khẳng định. Ông K. cũng hứa sẽ in lại cả luận án TS, trong đó bổ sung phần trích dẫn những đoạn đã sử dụng luận văn của TS Mai Nhân.

Vô tư dùng cứ liệu của học trò

Luận án “So sánh một số đặc điểm cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” là một công trình khá công phu với phần trình bày cả tiếng Việt lẫn tiếng Hàn của tác giả T.

Một số chuyên gia nhận định đây là luận án nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến kiến thức ngữ pháp – ngữ nghĩa không phải của câu văn bình thường mà là tục ngữ tiếng Hàn, chứng tỏ tác giả phải am hiểu chuyên sâu cả tiếng Việt và tiếng Hàn. Tuy nhiên, một số chuyên gia về tiếng Hàn đã chỉ ra rất nhiều lỗi trong luận án này mà một người biết tiếng Hàn ở trình độ sơ – trung cấp đều có thể phát hiện.

Trong luận án TS, tác giả T. lại sử dụng tài liệu tham khảo của không ít khóa luận tốt nghiệp của sinh viên liên quan đến tục ngữ. Thậm chí, luận văn của sinh viên được tác giả luận án đánh giá là “những ngữ liệu quan trọng” để sử dụng trong công trình bậc học TS của mình.

“Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận” - một chuyên gia về giáo dục sau ĐH nhận định.

Một giảng viên Việt Nam tại Hàn Quốc đã từng được TS T. nhờ sưu tầm, dịch một số tài liệu từ tiếng Hàn sang tiếng Việt cho luận án trên cho biết tác giả đã sử dụng phần dịch của bà ở nhiều cước chú nhưng không ghi tên, chức danh, học vị của bà. “Như vậy, sẽ không có căn cứ khoa học cho phần dịch này và người đọc sẽ hiểu chính tác giả là người dịch đoạn đó” - giảng viên này nhận xét.

Luận án của tác giả T. đã được bảo vệ thành công vào ngày 16-4-2007. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hội đồng bảo vệ luận án gồm 7 người và… không ai thành thạo tiếng Hàn!

Đủ kiểu đạo văn

PGS-TS Trần Hữu Tá, nguyên chủ nhiệm Khoa Văn Trường ĐH Sư phạm TPHCM, thừa nhận tình trạng đạo luận án ngày càng tinh vi. “Học viên chỉ “luộc” cái khá, còn cái tồi thì không “luộc”. Bởi vậy, gặp những luận án hầu hết được viết rất thô thiển nhưng có đoạn lại bay bổng, trau chuốt là chúng tôi biết tác giả đã đạo văn” - PGS-TS Trần Hữu Tá cho biết.

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, nhận định có rất nhiều kiểu đạo văn khó phát hiện như ghi nguồn tham khảo nhưng lại không ghi rõ trích dẫn, trong đó xào xáo một phần tài liệu tham khảo, trộn với phần của mình hoặc pha trộn nhiều tài liệu tham khảo khác nhau thành của mình; thay đổi từ ngữ nhưng ý tứ thì ăn cắp…

Ngoài ra, còn có các kiểu đạo văn trắng trợn như “cóp” nguyên xi của người khác mà không cho vào ngoặc kép và ghi nguồn trích dẫn; trích dẫn thật nhiều đoạn khác nhau mà không có chữ nào của mình.... “Dùng bất cứ tài liệu nào của người khác mà không ghi nguồn đều được coi là đạo văn và vi phạm Luật Bản quyền” - PGS-TS Nguyễn Thiện Tống nhìn nhận. Ông Tống cũng cho rằng đạo văn dù ở dạng nào cũng là hành vi “đánh lừa”, “ăn cắp nguy hiểm”,  cần phải lên án và loại bỏ.

Dù biết đạo văn là không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học nhưng nhiều luận án “luộc” đã qua mắt được hội đồng bảo vệ. Một PGS từng là thành viên trong hội đồng bảo vệ nhiều luận án TS cho biết có rất nhiều trường hợp trong luận án không đạo từng đoạn mà chỉ đạo từng câu nên rất khó phát hiện. Bên cạnh đó, học viên thường sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà không phải lúc nào thành viên hội đồng cũng có thể tham khảo hết nguồn tài liệu đó.

Quy trình kín mà hở

Một nguyên nhân khác khiến việc đạo văn trong các luận án TS vẫn có đất sống, theo PGS-TS Trần Hữu Tá, là do quy trình làm luận án chưa có khâu kiểm tra cụ thể. Luận án TS hiện được làm theo các bước: Học viên nhận đề tài, thực hiện trong 3 năm cùng thầy hướng dẫn; sau đó nộp, bảo vệ cấp cơ sở, góp ý sửa chữa, phản biện độc lập, bảo vệ trước hội đồng… PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng quy trình này đã tạo ra kẽ hở để học viên không học vẫn có luận án, rồi có bằng TS.

PGS-TS Trần Hữu Tá kể lại một trường hợp học viên bảo vệ luận án về nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Luận án rất tốt nhưng thành viên hội đồng nghi ngờ đạo văn liền đề nghị học viên tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ trong vòng 5-10 phút - một yêu cầu đơn giản mà học sinh THPT có thể làm được. Thế nhưng, học viên bảo vệ luận án TS này lại ấm ớ rồi cúi đầu!

Một chuyên gia giáo dục sau ĐH cũng cho biết khâu phản biện độc lập hiện kín mà chưa kín. Nhiều khi ông đang thực hiện phản biện độc lập nhưng lại có điện thoại gửi gắm, kiểu: “Học trò của mình đấy, chiếu cố chút nhé”! Theo chuyên gia này, những luận án lôm côm hoặc có đạo văn có thể phát hiện được nhưng vẫn tồn tại quan niệm “luận án là lý bên trong có tình” nên đôi khi nhắm mắt cho qua mà trong lòng ngao ngán. Quá trình làm và bảo vệ luận án tưởng chặt nhưng lại hở, đôi khi tưởng là thứ thiệt mà lại dỏm.

PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng để ngăn ngừa nạn đạo văn, quy trình làm và bảo vệ luận án TS cần chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn, tránh những đề tài na ná nhau nhưng vẫn được thực hiện. Trong quá trình thực hiện cần có những đợt kiểm tra kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài mà học viên đang theo đuổi. Nghiên cứu sinh phải tập trung tại trường ít nhất 3 lần để làm chuyên đề kiểm tra tại chỗ.

Ngoài ra, học viên cần phải có những buổi thuyết trình về đề tài trong quá trình thực hiện luận án. Nếu không chuẩn bị, không có kiến thức mà đi “đạo” của người khác thì không thể nào đáp ứng được các kỳ kiểm tra tại chỗ và các buổi thuyết trình. Bên cạnh đó, phải có biện pháp chế tài đối với các trường hợp luận án bị phát hiện đạo văn.

“Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai. Trong khi đó, ông K. dùng nguyên văn khá nhiều đoạn trong luận văn của tôi mà không hề có một dòng trích dẫn thì thật khó chấp nhận” - TS Mai Nhân bức xúc.

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông K. lý giải khi làm luận án TS - cách đây 15 năm - ông còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. “Tôi thừa nhận đã sơ suất khi dùng luận văn của TS Nhân mà không trích dẫn. Một người bạn đã photocopy giùm tôi cuốn tài liệu này nhưng lại không có bìa. Lúc đó, vấn đề tôi nghiên cứu còn có nhiều tranh cãi, tôi đọc được cuốn tài liệu này thấy rất tâm đắc nên sử dụng một số đoạn mà không biết tác giả là ai”.

Ông K. cho biết khi TS Mai Nhân lên tiếng, ông mới biết đã sử dụng luận văn của bà. “Tôi đã viết thư xin lỗi TS Nhân và sẽ mua lại toàn bộ sách đã xuất bản của mình còn lại ở các nhà sách. Nếu tái bản, tôi sẽ phải bỏ hoàn toàn những đoạn sử dụng trong luận văn của TS Nhân” - ông K. khẳng định. Ông K. cũng hứa sẽ in lại cả luận án TS, trong đó bổ sung phần trích dẫn những đoạn đã sử dụng luận văn của TS Mai Nhân.

Vô tư dùng cứ liệu của học trò

Luận án “So sánh một số đặc điểm cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” là một công trình khá công phu với phần trình bày cả tiếng Việt lẫn tiếng Hàn của tác giả T.

Một số chuyên gia nhận định đây là luận án nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến kiến thức ngữ pháp – ngữ nghĩa không phải của câu văn bình thường mà là tục ngữ tiếng Hàn, chứng tỏ tác giả phải am hiểu chuyên sâu cả tiếng Việt và tiếng Hàn. Tuy nhiên, một số chuyên gia về tiếng Hàn đã chỉ ra rất nhiều lỗi trong luận án này mà một người biết tiếng Hàn ở trình độ sơ – trung cấp đều có thể phát hiện.

Trong luận án TS, tác giả T. lại sử dụng tài liệu tham khảo của không ít khóa luận tốt nghiệp của sinh viên liên quan đến tục ngữ. Thậm chí, luận văn của sinh viên được tác giả luận án đánh giá là “những ngữ liệu quan trọng” để sử dụng trong công trình bậc học TS của mình.

“Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận” - một chuyên gia về giáo dục sau ĐH nhận định.

Một giảng viên Việt Nam tại Hàn Quốc đã từng được TS T. nhờ sưu tầm, dịch một số tài liệu từ tiếng Hàn sang tiếng Việt cho luận án trên cho biết tác giả đã sử dụng phần dịch của bà ở nhiều cước chú nhưng không ghi tên, chức danh, học vị của bà. “Như vậy, sẽ không có căn cứ khoa học cho phần dịch này và người đọc sẽ hiểu chính tác giả là người dịch đoạn đó” - giảng viên này nhận xét.

Luận án của tác giả T. đã được bảo vệ thành công vào ngày 16-4-2007. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hội đồng bảo vệ luận án gồm 7 người và… không ai thành thạo tiếng Hàn!

Đủ kiểu đạo văn

PGS-TS Trần Hữu Tá, nguyên chủ nhiệm Khoa Văn Trường ĐH Sư phạm TPHCM, thừa nhận tình trạng đạo luận án ngày càng tinh vi. “Học viên chỉ “luộc” cái khá, còn cái tồi thì không “luộc”. Bởi vậy, gặp những luận án hầu hết được viết rất thô thiển nhưng có đoạn lại bay bổng, trau chuốt là chúng tôi biết tác giả đã đạo văn” - PGS-TS Trần Hữu Tá cho biết.

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, nhận định có rất nhiều kiểu đạo văn khó phát hiện như ghi nguồn tham khảo nhưng lại không ghi rõ trích dẫn, trong đó xào xáo một phần tài liệu tham khảo, trộn với phần của mình hoặc pha trộn nhiều tài liệu tham khảo khác nhau thành của mình; thay đổi từ ngữ nhưng ý tứ thì ăn cắp…

Ngoài ra, còn có các kiểu đạo văn trắng trợn như “cóp” nguyên xi của người khác mà không cho vào ngoặc kép và ghi nguồn trích dẫn; trích dẫn thật nhiều đoạn khác nhau mà không có chữ nào của mình.... “Dùng bất cứ tài liệu nào của người khác mà không ghi nguồn đều được coi là đạo văn và vi phạm Luật Bản quyền” - PGS-TS Nguyễn Thiện Tống nhìn nhận. Ông Tống cũng cho rằng đạo văn dù ở dạng nào cũng là hành vi “đánh lừa”, “ăn cắp nguy hiểm”,  cần phải lên án và loại bỏ.

Dù biết đạo văn là không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học nhưng nhiều luận án “luộc” đã qua mắt được hội đồng bảo vệ. Một PGS từng là thành viên trong hội đồng bảo vệ nhiều luận án TS cho biết có rất nhiều trường hợp trong luận án không đạo từng đoạn mà chỉ đạo từng câu nên rất khó phát hiện. Bên cạnh đó, học viên thường sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà không phải lúc nào thành viên hội đồng cũng có thể tham khảo hết nguồn tài liệu đó.

Quy trình kín mà hở

Một nguyên nhân khác khiến việc đạo văn trong các luận án TS vẫn có đất sống, theo PGS-TS Trần Hữu Tá, là do quy trình làm luận án chưa có khâu kiểm tra cụ thể. Luận án TS hiện được làm theo các bước: Học viên nhận đề tài, thực hiện trong 3 năm cùng thầy hướng dẫn; sau đó nộp, bảo vệ cấp cơ sở, góp ý sửa chữa, phản biện độc lập, bảo vệ trước hội đồng… PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng quy trình này đã tạo ra kẽ hở để học viên không học vẫn có luận án, rồi có bằng TS.

PGS-TS Trần Hữu Tá kể lại một trường hợp học viên bảo vệ luận án về nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Luận án rất tốt nhưng thành viên hội đồng nghi ngờ đạo văn liền đề nghị học viên tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ trong vòng 5-10 phút - một yêu cầu đơn giản mà học sinh THPT có thể làm được. Thế nhưng, học viên bảo vệ luận án TS này lại ấm ớ rồi cúi đầu!

Một chuyên gia giáo dục sau ĐH cũng cho biết khâu phản biện độc lập hiện kín mà chưa kín. Nhiều khi ông đang thực hiện phản biện độc lập nhưng lại có điện thoại gửi gắm, kiểu: “Học trò của mình đấy, chiếu cố chút nhé”! Theo chuyên gia này, những luận án lôm côm hoặc có đạo văn có thể phát hiện được nhưng vẫn tồn tại quan niệm “luận án là lý bên trong có tình” nên đôi khi nhắm mắt cho qua mà trong lòng ngao ngán. Quá trình làm và bảo vệ luận án tưởng chặt nhưng lại hở, đôi khi tưởng là thứ thiệt mà lại dỏm.

PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng để ngăn ngừa nạn đạo văn, quy trình làm và bảo vệ luận án TS cần chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn, tránh những đề tài na ná nhau nhưng vẫn được thực hiện. Trong quá trình thực hiện cần có những đợt kiểm tra kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài mà học viên đang theo đuổi. Nghiên cứu sinh phải tập trung tại trường ít nhất 3 lần để làm chuyên đề kiểm tra tại chỗ.

Ngoài ra, học viên cần phải có những buổi thuyết trình về đề tài trong quá trình thực hiện luận án. Nếu không chuẩn bị, không có kiến thức mà đi “đạo” của người khác thì không thể nào đáp ứng được các kỳ kiểm tra tại chỗ và các buổi thuyết trình. Bên cạnh đó, phải có biện pháp chế tài đối với các trường hợp luận án bị phát hiện đạo văn
NVT

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Trích dẫn tài liệu khoa học

Trích dẫn tài liệu khoa học      

Trích dẫn tài liệu khoa học là chuyện nhỏ, nhưng ở VN lại là chuyện không nhỏ. Chẳng những không nhỏ mà còn phức tạp. Đọc qua những bài báo khoa học trong nước, tôi có cảm tưởng như không có một qui định, không có một qui ước gì về cách trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo. Trong bài này, nhân một câu hỏi của một em nghiên cứu sinh bên Đài Loan, tôi sẽ trình bày vấn đề và công thức trích dẫn trong bài báo khoa học.



Tình hình hiện nay

Có thể nói rằng rất nhiều bài báo y khoa trong nước chưa có một cách trình bày tài liệu tham khảo một cách thống nhất. Mỗi tác giả hình như có một cách trình bày khác nhau. Thật ra, một tác giả có khi có nhiều cách trình bày khác nhau. Trong một bài báo trên tạp chí Y học TPHCM năm 2005, có tác giả viết như sau: “Theo Shapira MY (4) dùng vắc xin thế hệ 3 …”. Khi xem qua phần Tài liệu tham khảo thì thấy:

Shapira MY, Zeira E, Ruth A, Shouval D. Rapid seroprotection against HBV following the first dose of a PreS1/PreS2/S vaccine. J of Hepatol 34(2001) 123-127.

Có vài vấn đề trong cách trình bày trên. Thứ nhất, trong bài báo y khoa, không ai trích dẫn họ tác giả kèm theo chữ viết tắt tên và chữ lót cả. Người ta có thể viết Theo Shapira, chứ không biết Theo Shapira MY. Thứ hai là bài báo này có 4 tác giả, nhưng chỉ đề cập đến tác giả đầu là không chấp nhận được. Thứ ba là không ai viết tên tập san mà có giới từ như of. Nên viết J Hepatol, chứ không phải J of Hepatol. Thứ tư, trong y khoa, rất ít ai viết tên số bộ (volume) trước năm như 34(2001) cả; ngược lại, người ta thường viết năm xuất bản trước, rồi dấu ; và theo sau là số bộ. Thứ năm, nghiêm trọng hơn là phần tài liệu tham khảo trên là sai tựa đề bài báo (không có HBV mà chính xác là hepatitis B). Chính xác (tôi tìm trong Pubmed) là:

Shapira MY, Zeira E, AdlerR , Shouval D. Rapid seroprotection against hepatitis B following the first dose of a PreS1/PreS2/S vaccine. J Hepatol. 2001;34:123–127.

Thật ra, trong bài báo còn có vài chỗ thiếu nhất quán khác. Chẳng hạn như bài:

Andre FE. Summary of safety and efficacy data on a yeast derived hepatitis B vaccine. Am J Med 87:(suppl.3A):14S (1989).

Mà chính xác là:

André FE. Summary of safety and efficacy data on a yeast-derived hepatitis B vaccine. Am J Med 1989 Sep 4;87(3A):14S-20S.

Lại có trường hợp cùng tạp chí, nhưng có tác giả trình bày tài liệu tham khảo một cách rất … không giống ai. Ví dụ như trường hợp:

Alan R. Sinaiko, MD (1996). “Hypertension in children”. The New England of Journal Medicine, 335 (26), pp. 1968-1973.

Tác giả có vẻ trích dẫn trực tiếp từ bài này, nhưng quên qui tắc trong việc trình bày tài liệu tham khảo. Đáng lí ra, cách trình bày chuẩn phải là:

Sinaiko AR. Hypertension in children. N Engl J Med 1966; 335 (26): 1968-1973.

Trên đây chỉ là vài trường hợp tiêu biểu về vấn đề trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo trong các bài báo khoa học Việt Nam. Trong thực tế, còn rất rất nhiều trường hợp mà tác giả có lẽ chưa biết cách trình bày nên tỏ ra lúng túng khi trích dẫn.



Trích dẫn thứ phát

“[…] khi em đọc 1 bài báo của ông A, thấy ông ý trích lại ý của ông B. Và Em muốn dùng ý của ông B đó trong bài của em. Về nguyên tắc, thì em phải tìm lại đúng bài của ông B để đọc rồi mới trích lại ý. Tuy vậy, không phải lúc nào cũng tìm được ngay bài báo của ông B đó. […] Em cũng có trao đổi vấn đề này với một số bạn PhD students khác như em (tức là những người mới ở VN qua, tiếng Anh không được tốt như những người ở lâu và kinh nghiệm nghiên cứu còn ít), họ cũng chia sẻ vấn đề này.”

Trên đây là một câu hỏi về vấn đề trích dẫn, và cũng là một tâm sự về khó khăn trong điều kiện thiếu thốn tài liệu tham khảo. Mỗi lần đi giảng ở Việt Nam, tôi đều gặp một câu hỏi tương tự. Trong thực tế, rất nhiều đồng nghiệp trong nước không hề có tài liệu gốc, hay chưa đọc tài liệi, nhưng vẫn trích dẫn làm như họ đã đọc. Đó là một vi phạm đạo đức khoa học, vì nguyên tắc quan trọng là tác giả chỉ trích dẫn những gì mình có trong tay VÀ đã đọc VÀ hiểu.

Tuy nhiên, trong vài trường hợp, tác giả muốn trích dẫn một tác giả quan trọng là “cha đẻ” của một khái niệm hay phương pháp nào đó, nhưng không có tài liệu gốc (có thể vì đã lâu, không tái bản hay không có trong PubMed), mà chỉ đọc qua một tác giả khác. Trường hợp này gọi là secondary citation – trích dẫn thứ phát. Trích dẫn thứ phát có thể chấp nhận được, nhưng phải ghi rõ ràng như thế. Chẳng hạn như tác giả muốn trích dẫn Albright (primary source), nhưng vì không có bài gốc mà chỉ đọc qua tác giả Nguyen (secondary source), tác giả có thể viết như sau:

It has been observed that women developed osteoporosis after, but rarely before menopause (Albright 1941, cited in Nguyen, 2002, p. 22).

và trong phần tài liệu tham khảo, tác giả chỉ trình bày chi tiết bài báo của Nguyen, chứ không cần bài của Albright.

Trích dẫn thứ phát khá phổ biến và có khi dẫn đến sai lầm nghiêm trọng. Tôi có một kinh nghiệm mới đây về sai lầm kiến thức trong trích dẫn thứ phát. Ai cũng biết béo phì (obesity) được định nghĩa qua chỉ số BMI (body mass index). Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị rằng người với BMI bằng hoặc cao hơn 30 kg/m2 thì được xem là béo phì. Nhưng chỉ số BMI có rất nhiều vấn đề, vì nó không phản ảnh chính xác lượng mỡ trong cơ thể. Thật ra, một vận động viên có thể xem là béo phì (dựa vào BMI) dù người có nhiều lượng cơ hơn là mỡ. Trong thời gian gần đây, với sự phát triển của công nghệ, chúng ta có thể đo được tỉ lệ mỡ trong cơ thể (gọi là percent body fat hay PBF).

Năm 1998, trong một bài báo trên tập san Int J Obesity, một nhóm tác giả bên Singapore (Deurenberg, et al 1998) viết rằng béo phì được định nghĩa là nam có PBF cao hơn 25% và nữ cao hơn 35%. Họ trích dẫn nguồn của hai chuẩn này từ một tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới năm (WHO 1995). Kể từ đó, có ít nhất 14 tác giả khác cũng trích dẫn con số đó và cho biết từ báo cáo WHO 1995, hoặc từ Deurenberg, et al 1998. Đến khi chúng tôi kiểm tra lại thì báo cáo của WHO 1995 không hề đề cập đến chuẩn 25%/35%. Dĩ nhiên, nhóm tác giả Singapore cũng không phải là tác giả của chuẩn đó. Ấy thế mà suốt 15 năm trời, thế giới xem chuẩn đó như là của WHO! Chúng tôi chỉ ra cái sai lầm tai hại này trong một bài mới công bố năm ngoái. Sự việc cho thấy sự nguy hiểm của trích dẫn thứ phát, và sự thiếu thành thật (vi phạm đạo đức khoa học) của nhóm tác giả Singapore trong việc trích dẫn tài liệu khoa học.

Nguyên tắc

Nhân cơ hội này, tôi xin chia sẻ vài kinh nghiệm khác liên quan đến trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo. Tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu trong khoa học có nhiều mục đích. Việc trích dẫn chứng tỏ người viết am hiểu với kiến thức hiện hành trong chuyên ngành, và dẫn người đọc đến nguồn tài liệu liên quan. Ngoài ra, trích dẫn còn cung cấp cho các nhà nghiên cứu khác nguồn gốc của phương pháp sử dụng trong nghiên cứu. Nếu lĩnh vực nghiên cứu còn trong vòng tranh luận thì phần tài liệu tham khảo cần phản ảnh được điều đó. Một số qui ước chung về trích dẫn tài liệu tham khảo có thể trình bày như sau:

Thứ nhất, tất cả những phát biểu về dữ liệu cần phải có nguồn tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, một số phát biểu chung (như osteoporosis is an important health problem) thì không cần tài liệu tham khảo. Những ai cung cấp tài liệu tham khảo cho những phát biểu như thế có thể xem là … bất bình thường hay khoe! Nhưng nếu viết rằng osteoporosis is associated with 2-fold increase in hip fracture risk thì cần phải có tài liệu tham khảo vì câu này có con số cụ thể.

Thứ hai, không trích dẫn tài liệu mà người viết chưa đọc. Thông thường, khi nghiên cứu sinh trích dẫn bất cứ một bài báo hay tài liệu nào thì người nghiên cứu sinh phải (a) có tài liệu đó trong tay, và (b) đã đọc tài liệu đó. Không bao giờ tuỳ thuộc hay sử dụng nguồn tài liệu khác mà không kiểm tra sự chính xác của nguồn tài liệu.

Thứ ba, lên kế hoạch và quyết định sử dụng tài liệu tham khảo nào. Trong một phát biểu, có thể có nhiều tài liệu có thể trích dẫn, và chọn tài liệu nào để trích dẫn là một vấn đề tác giả cần phải có kế hoạch trước. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi chỉ trích dẫn những tài liệu nào trực tiếp liên quan đến phát biểu trong bài báo, và chỉ trích dẫn những nghiên cứu có tiếng hay những tác giả có tiếng trong chuyên ngành. Có khi, tôi cũng nhìn thấy trước ai sẽ là người bình duyệt bài báo, và trong trường hợp đó, tôi có thể trích dẫn những nghiên cứu của các chuyên gia bình duyệt.

Thứ tư, chú ý đến thứ tự về tài liệu tham khảo trong một câu văn. Có khi tôi bắt gặp những cách trích dẫn như “Some [1, 3, 7], but not all [2, 4, 6] studies have found that”. Đây là cách viết cần phải tránh! Nên trình bày theo thứ tự như sau: “Some [1-3], but not all [4-6] studies have found that” để người đọc có thể nhận ra những nghiên cứu nào phù hợp hay những nghiên cứu nào không phù hợp với ý kiến trong bài báo.

Thứ năm, phần kết quả thường không có tài liệu tham khảo. Phần kết quả là nơi tác giả trình bày dữ liệu từ nghiên cứu của mình, nên không cần có tài liệu tham khảo.

Thứ sáu, cần kiểm tra lại phần tài liệu tham khảo trước khi nộp bài báo. Kiểm tra xem tài liệu tham khảo có quá lỗi thời hay không (dĩ nhiên, có những trường hợp tài liệu tham khảo là những bài báo kinh điển thì dù 20 hay 30 năm vẫn không phải là vấn đề). Những tài liệu tham khảo qúa cũ làm cho biên tập khó kiểm tra, hay thể hiện sự “lạc hậu” của tác giả cũng là một trong những nguyên nhân bài báo bị từ chối.

Công thức trình bày tài liệu tham khảo

Mỗi một tập san có một qui định về cách trình bày tài liệu tham khảo. Do đó, trong thực tế, có hàng trăm công thức trình bày. Nhưng nói chung, đa số các tập san đều tuân theo phong cách Vancouver (còn gọi là Vancouver style). Gọi là phong cách Vancouver vì đó là thành phố mà các tổng biên tập các tập san y khoa nhóm họp vào năm 1978 và cho ra đời qui định về tài liệu tham khảo trong các tập san y khoa. Theo công thức của Vancouver, cách trình bày một tài liệu tham khảo còn tuỳ thuộc vào thể loại của tài liệu.

Nếu tài liệu là một công trình nghiên cứu nguyên gốc (original article), thì công thức là:

Họ tác giả, tên và chữ lót viết tắt. Tựa đề bài báo. Tên tập san (viết tắt và có khi viết nghiêng). Năm xuất bản; số bộ (volume) và số báo (trong ngoặc):số trang.

Ví dụ:

Nguyen TV, Blangero J, Eisman JA. Genetic epidemiological approaches to the search for osteoporosis genes. J Bone Miner Res 2000; 15(3):392-401.

Thông thường, tất cả tác giả phải được liệt kê theo đúng như thứ tự của bài báo gốc. Tuy nhiên, có tập san có qui định chỉ liệt kê 6 tác giả đầu, còn những người theo sau sẽ được đề cập bằng chữ Latin et al. Ví dụ:

Gao SR, McGarry M, Ferrier TL, Pallante B, Gasparrini B, Fletcher JR, et al. Effect of cell confluence on production of cloned mice using an inbred embryonic stem cell line. Biol Reprod 2003;68(2):595-603.

Nếu là sách, công thức trình bày là:

Tác giả / Chủ biên. Tựa đề sách. # ed.[nếu chủ biên 1] Nơi xuất bản: Tên nhà xuất bản; năm xuất bản.

Ví dụ: Brown AM, Stubbs DW, editors. Medical physiology. New York: Wiley; 1983.

Nếu là một chương hay một vài trang trong sách:

Tên tác giả chương sách. Tên chương sách. In: tên chủ biên. Tên sách, lần xuất bản. Nơi xuất bản: Tên nhà xuất bản; năm xuất bản. p# số trang.

Ví dụ: Blaxter PS, Farnsworth TP. Social health and class inequalities. In: Carter C, Peel JR, editors. Equalities and inequalities in health. 2nd ed. London: Academic Press; 1976. P. 165-78.

Nếu tác giả là một nhóm, một tổ chức hay hiệp hội:

The Evidence-based Radiology Working Group. Evidence-based radiology: a new approach to the practice of radiology. Radiology 2001;220:566–575.

Có khi bài báo không có tác giả:

Cancer in Vietnam [editorial]. J Intern Med 1994;84:15.

Bài báo trong hội nghị (conference proceedings): 

Kimura J, Shibasaki H, editors. Recent advances in clinical neurophysiology. Pro- ceedings of the 10th International Congress of EMG and Clinical Neurophysiology; 1995 Oct 15–19; Kyoto, Japan. Amsterdam: Elsevier; 1996.

Tài liệu là một báo cáo kĩ thuật (technical report):

Field MJ, Tranquada RE, Feasley JC, editors. Health services research: work force and educational issues. Washington: National Academy Press; 1995. Contract No.: AHCPR282942008. Sponsored by the Agency for Health Care Policy and Research.

Luận án:

Smith SJ. Post-hospital home health care: the elderly’s access and utilization [PhD dissertation]. St. Louis (MO): Washington Univ.; 1995.

Bằng sáng chế: 

Larsen CE, Trip R, Johnson CR, inventors; Novoste Corporation, assignee. Methods for procedures related to the electrophysiology of the heart. US patent 5,529,067. 1995 Jun 25.

Bài báo trên báo chí phổ thông: 

Lee G. Hospitalizations tied to ozone pollution: study estimates 50,000 admissions annually. The Washington Post 1996 Jun 21; Sect. A:3 (col. 5).

Bài báo trên mạng: 

Morse SS. Factors in the emergence of infectious diseases. Emerg Infect Dis [serial online] 1995 Jan-Mar [cited 1996 Jun 5]; 1(1):[24 screens]. Available from: URL: http://www.cdc.gov/ncidod/EID/eid.htm

***

Hi vọng những chỉ dẫn trên đây đã giúp cho các bạn biết thêm về cách trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo trong bài báo khoa học. Tôi biết mỗi ngành có một cách trình bày và phong cách trích dẫn khác nhau, nhưng ở đây, tôi chỉ đề cập đến những phong cách trong ngành y sinh học. Như đề cập trên, có rất nhiều cách trích dẫn và nhiều công thức trình bày tài liệu tham khảo, và cách tốt nhất là sử dụng một chương trình máy tính như EndNote để quản lí tài liệu tham khảo.

Nguồn NVT

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Chiến lược viết bài văn khoa học rõ ràng (3)




http://scientificsolutions1.com/quil.gifTiếp tục loạt bài về viết báo cáo khoa học. Bài này sẽ bàn về cách nhấn mạnh trong bài báo, cách chọn những từ trung dung, và cách viết cho thích hợp với vị thế của mình trong chuyên ngành.

Tôi có nhiều kỉ niệm và bài học trong việc viết lách khoa học. Một trong những bài học là phải biết vị thế của mình ở đâu trong chuyên ngành. Cách đây khoảng 20 năm, tôi có viết một letter to the editor để phê bình một tác giả, và nếu không có thầy tôi sửa thì rất phiền phức sau này. Dạo đó, tiếng Anh của tôi chỉ ở mức trung bình hay dưới trung bình thôi, đọc và học cũng rất nhiều từ, nên tôi tỏ ra tự tin lắm. Lá thư của tôi nếu vấn đề đúng, nhưng văn phong thì không thích hợp. Thầy tôi đọc xong rồi nói lá thư hay lắm (ông này lúc nào cũng khen, ngay cả về VN ổng cũng khen nhiều lắm), nhưng có hai vấn đề cần “cải tiến”.
Vấn đề thứ nhất là cái tone (âm điệu) mang tính tiêu cực. Ông nói muốn phê bình ai và muốn người đó lắng nghe thì nên viết một cách tích cực (kiểu như "tôi nghĩ có một cách nhìn khác về vần đề này"), chứ không tiêu cực vì dễ hiểu lầm là đả phá (kiểu như "tôi nghĩ tác giả đã sai"). Sau này, tôi thường hay chỉ các nghiên cứu sinh cách phê bình ai bằng cách mở đầu với một câu khen, sau đó là "We would like to offer another interpretation of your data" thì đọc lên nghe ... hay hay. :-)
Vấn đề thứ hai là tôi dùng những từ không thích hợp với vị thế của tôi, và có thể xúc phạm với người đàn anh. “Người đàn anh” đó chính là Giáo sư Ian Reid, một người rất nổi tiếng mà lúc đó tôi chưa biết đến. Những từ ngữ kiểu như "tôi cho rằng, theo quan điểm của tôi" chỉ dành cho người có thẩm quyền; nếu mình là người vai vế thấp thì nên chọn cách viết "tôi muốn diễn giải rằng ..." (I would like to interpret ...). Cách viết nhún nhường đó không làm giảm giá trị hay nội dung của bài viết, mà để người đọc có cảm tình.
Quay lại câu câu chuyện của tôi, thầy tôi sửa lại chỉ có đôi ba chữ, mà đọc lại thì thấy quả là hay hơn, khiêm tốn hơn, nhưng vẫn nói lên được ý chính là bài báo của ông IR có vấn đề. Lá thư đó được đăng, nhưng dĩ nhiên phải qua tác giả của nó (tức là ông IR) để tác giả trả lời.  Ông IR đọc lá thư và ông nói là rất thích. Sau này, khi đã có chút tên tuổi, tôi và ông trở thành bạn. Chính ông IR là người duyệt đơn đề bạt chức danh giáo sư của tôi và ông rất tích cực. Nếu không có thầy tôi lúc đó thì chắc sự việc xảy ra không hay ho, và chẳng biết quan hệ trong ngành sau này sẽ ra sao. Chúng ta cần thầy cô là ở chỗ họ hiểu biết và có cái nhìn rộng hơn mình!
Bài học trên cho thấy chúng ta phải cẩn thận với cách dùng từ ngữ sau cho trung dung. Tránh từ ngữ kì thị giới tính (như chỉ nói "thầy" mà không nhắc đến "cô", chỉ nói đến "anh" mà bỏ qua "chị').  Tuyệt đối tránh cách viết trịch thượng, cho dù mình là bậc thầy!  Tốt nhất là nên tập trung vào dữ liệu, tránh những từ ngữ cảm tính. Điều này khó, nhất là với thói quen tiếng Việt, nhưng tập dần dần sẽ quen. Entry này hi vọng sẽ giúp cho các bạn cách chọn từ thích hợp trong bài báo.
NVT


===
13. Nên nghĩ đến chỗ cần nhấn mạnh
Thỉnh thoảng, chúng ta cần nhấn mạnh một điểm trong bài viết. Điểm nhấn mạnh có khi đóng vai trò quan trọng, nhất là đối với tâm lí của người đọc. Trong một câu văn, bắt đầu bằng những câu chữ mà chúng ta muốn nhấn mạnh:

In the previous project period, three approaches were developed to solve ...

Three approaches were developed in the previous project period to solve ...
Three approaches to solve … were developed in the previous project period.
Không nên bắt đầu một đoạn văn bằng những câu chữ không quan trọng:
Không nên viết: First let us consider that rain helps plants grow.

Nên viết: Rain helps plants grow. Let us consider the significance of this in relation to …

14. Nên chú ý đến âm điệu
Nên nhớ rằng thái độ, tính khí, và âm điệu có khi mang tính “lây lan”. Cố gắng giữ giọng văn tích cực.
Không nên viết: I won’t be able to finish this project by the end of the first year.
Nên viết: I will be able to finish this project by March of the second year.
Hai câu văn có cùng một ý, nhưng câu đầu mang tính tiêu cực hơn câu sau.


Tránh những chữ có thể làm độc giả nổi giận
Những chữ hàm ý tiêu cực như intolerable, misguided, unfair, wrong, unfortunately có khi làm độc giả không hài lòng. So sánh bảng dưới đây vài từ phổ biến:

Từ mang ý nghĩa tích cực hay trung dung
Từ mang tính tiêu cực
Methodical, Meticulous
Fanatical, Nit-picking
Economical, Frugal
Cheap, Chintzy
Uninformed
Ignorant
Firm
Inflexible
Forceful, Persevering
Overbearing, Dogged
Colorful
Gaudy
Problem
Disaster

Cũng xin nói thêm rằng trong tiếng Anh có những từ như tác động tâm lí mà nhà khoa học có khi khó chấp nhận. Chẳng hạn như chữ problem và disaster, cả hai đều có nghĩa là … có vấn đề, nhưng problem là vấn đề có thể có biện pháp khắc phục, còn disaster là vấn đề … bó tay, không có biện pháp khắc phục. Nên cẩn thận cách dùng hai từ này!
Dùng những từ mang tính trung dung, không mang tính thiện vị giới tính. Tiếng Anh là loại ngôn ngữ, nhìn theo quan điểm ngày nay, là kì thị giới tính. Kì thị hiểu theo nghĩa thiên vị nam giới. Do đó, nhiều chuyên gia khuyên tác giả khoa học nên hạn chế những từ thiên vị, và chọn những từ trung dung hơn. Liệt kê dưới đây là vài từ phổ biến:


Nên viết
Không nên viết
Business executive or manager
Businessman or Businesswoman
Chair, Chairperson, or moderator
Chairman
Member of the clergy
Clergyman
Firefighter
Fireman
Supervisor
Foreman
Police officer
Policeman
Flight attendant
Stewardess or Steward
Human race, humanity, humankind
Mankind
Synthetic
Man-made
Utility hole
Man-hole



Đặt mình vào tình thế người đọc. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc hợp tác và người bình duyệt bài báo. Cố gắng tưởng tượng mình là người duyệt bài báo hay đề cương. Mình có thể xuất thân từ một nền văn hoá khác với người đọc, và cần phải quan tâm những từ tế nhị mang tính văn hoá.
Mĩ có cách viết khác với Anh. Một số chữ mà đánh vần kiểu Anh bị Mĩ cho là … sai (và ngược lại). Ông bà ta thường nói “rừng nào cọp nấy”, nên khi viết bài báo cho tập san Mĩ hay Anh thì nên tuân theo cách đánh vần của họ.   Sau đây là hai ví dụ tiêu biểu:

Anh
Mĩ
Xu hướng trang trọng hơn Mĩ, nhất là đối với người cao tuổi
Xu hướng “bình dân” hơn Anh, ngoại trừ khi viết cho người cao tuổi thì cách viết của Mĩ cũng trang trọng

Dear Sir
Having been privileged to receive your esteemed patronage in the past, we think you will be interested to know that ...
Dear Bill
Because you’ve been so generous with funding for our project in the past, we thought you’d like to know that ...


Những từ ngữ mang tính “thẩm quyền”. Có những cách viết hay câu chữ “trịch thượng” trong khoa học, mà có tác giả có thể sử dụng nhưng tác giả không sử dụng được. Chẳng hạn như nếu tác giả là nghiên cứu sinh thì nên chọn cách viết khiêm tốn. Nếu tác giả là người có thẩm quyền trong chuyên ngành thì có thể (chỉ “có thể” thôi) chọn cách viết “lên giọng” một chút. Chẳng hạn như chữ suggest, cần phân biệt hai trường hợp:
Nếu tác giả là người có thẩm quyền, có hàng trăm bài báo, thì có thể viết: “I suggest ...”
Nhưng nếu tác giả là nghiên cứu sinh hay còn trẻ thì nên khiêm tốn hơn với cách viết: “I would like to suggest ...”

(Còn tiếp)
nguyenvantuan.net

Chiến lược viết bài văn khoa học rõ ràng (2)




Read : 838 times http://kmh-lanl.hansonhub.com/writinghardwork.jpgTiếp theo bài trước, bài này sẽ chỉ dẫn thêm một số “kĩ thuật” để làm cho văn phong khoa học sáng sủa. Trong bài này, tôi sẽ bàn về những câu văn hay từ mang tính thừa, rườm rà, làm cho người đọc cảm thấy khó hiểu.


6. Tránh những câu chữ thiếu thông tin hay chẳng có nhiều thông tin

Tiếng Anh gọi những câu văn loại này là circular sentence, tức là những câu văn “quanh co”. Quanh co là vì không chịu đi thẳng vào vấn đề. Vài ví dụ dưới đây sẽ minh hoạ cho vấn đề tôi đang bàn:
“X-related complications will be treated according to general institutional guidelines for X-related complications.”
Chú ý chữ “X-related” lặp lại 2 lần.
“In these experiments, we found that sterility is very important. Thus, we concluded that sterility is an important factor in these experiments.”
Câu đầu tiên chẳng có ý nghĩa gì hay thông tin gì cả. Hai chữ very important là kiểu nói định tính, khó thuyết phục ai trong khoa học. Chú ý chữ these experiments và important lặp lại hai lần. Câu văn lòng vòng, làm cho người đọc mất thì giờ.
Để khắc phục vấn đề quanh co, cố gắng dùng những chữ ngắn và đơn giản. Tránh dùng những chữ có nguồn gốc tiếng Latin hay Hi Lạp:

Không nên / tránh
Cố gắng dùng
Contemplate
Think
Endeavor
Try
Equitable
Equal, Fair
Facilitate
Help
Is indicative of
Indicates
Magnitude
Size
Require
Need
Terminate
End
The Reader
YOU
Utilize
Use

7. Loại bỏ những chữ / câu văn không cần thiết

Những chữ hay câu văn loại này chẳng những làm mất thì giờ người đọc, mà còn tốn giấy mực. Nên dành giấy mực cho những thông tin quan trọng. Nên nhớ rằng khi biên tập, các chuyên gia cố gắng giảm số chữ và số trang. Khi viết một câu văn, cố gắng tự hỏi: chữ này có thật sự cần thiết không, hay chữ này có thêm ý nghĩa gì trong câu văn? Bảng dưới đây liệt kê một số câu chữ rườm rà mà tác giả nên tránh:

Tránh những câu chữ
Cố gắng thay thế bằng
Arrived at the conclusion
Concluded
As a matter of fact
Actually
At the present time
Now
At this point in time
Now
Data given in the 3d column are
Data in the 3d column are

Do a study of the effects of x on y
Study the effects of x on y

Due to the fact that
Because

Every single night
Every night
For the purpose of
For, To
Give assistance to
Assist, Help
Have a preference for
Prefer
If you should have any questions feel free to contact me at XXX
If you have questions, call XXX

In a number of cases
Some, Several
In addition to
Also
In all probability
Probably
In excess of
More than
In order to
To
In the amount of $x
For $x
In the event that
If
In the majority of instances
Usually (most of)
In the nature of
Like (similar to)
In the near future
Soon
In the neighborhood of
About
In the not too distant future
Soon
In the vicinity of
Near
In view of
Because
In view of the fact that (Don’t use Because
the word fact unless it refers to a fact)

It is imperative that
Be sure that
It is interesting to note that
Note that, Note
It is possible that the cause of
The cause may be
It would thus appear that
Apparently
Last but not least
Finally, Lastly
Make decisions
Decide
Make decisions about
Decide on; Decide about
May result in damage
May damage
Must necessarily
Must
Needless to say
Then why bother to say it?

On a few occasions
Occasionally
On the assumption that
Assuming that
On the other hand
Or
Prior to
Before
Serve to make approximations
Approximate
Subsequent to
After, following
Take action
Act
Take into consideration
Consider
The instruments which are located in
The instruments in

The process of extracting the
Extracting the

With regard to
Regarding
With the exception of
Except
Reports were lengthy this year because the page limitations were eliminated from the instructions.
Reports were long this year because there were no page limits.
Please find enclosed, herewith, my new paper that was published in January of this year.


Here is my January 20XX paper.
At the present time we are experiencing precipitation.
It’s raining.

One of the members of the group said ...
A group member said ...
There is a new method that helps ...
A new method helps ...
He said the reason the grant was late was because …
He said the grant was late because ...

It was suggested by the Reviewers that the Principal Investigators include an amplify the background section
The Reviewers suggested the Principal Investigators include an Appendix to amplify the background section.
The reason I am worried is because I think she is writing a very poor grant proposal.

I am worried because I think she is writing a very poor grant proposal.

The Progress Report was in need of additional data.

The Progress Report needed more data.

It is imperative that you fill out the personal data sheet.

You must fill out the personal data sheet.

Không nên dùng hai ba cách để nói lên một điều. Có nhiều trường hợp, tác giả muốn nhấn mạnh nên họ dùng hai hay ba câu văn để nói một ý. Trong khoa học, đây là điều cấm kị. Trong khoa học, chỉ nên nói một lần, và nói chính xác. Trong các câu dưới đây, chỉ nên dùng một chữ; ví dụ như “each” hoặc “every” (chứ không phải cả hai!). Tác giả phải quyết định dùng chữ nào thích hợp nhất trong văn cảnh.
  • Each and every
  • First and foremost
  • In this day and age (Consider using “Now” instead.)
  • One and only

Tránh những câu chữ hiển nhiên. Trong các câu dưới đây, có thể loại bỏ (không cần viết ra):
  • Needless to say (Nếu không cần nói vậy thì nói làm gì?)
  • In summary
  • In the last analysis
  • In actual fact (câu này là buồn cười nhất!)
  • The fact of the matter is (có thật sự là fact?)
  • It is apparent that
  • In my opinion (nếu muốn nói điều gì, thì nói thẳng ra, người ta hiểu đó là ý kiến của tác giả, cần gì phải rào trước đón sau? Có thể thay thế bằng I think)

Ngoài ra, cũng nên (nếu có thể) loại bỏ những từ chuyển tiếp (transitional words) không cần thiết. Ví dụ như In conclusion … là một cách viết có khi không cần thiết. Nhưng có thể giữa lại những từ chuyển tiếp để báo cho người đọc biết tác giả đang chuyển hướng, ví dụ như in contrast, nevertheless, however, even though, v.v.
I think, I feel, I believe:
  • Nếu lĩnh vực nghiên cứu của tác giả là tâm lí học, thì có thể sử dụng cách viết I feel.
  • Nếu tác giả là tu sĩ của một tôn giáo, thì có thể dùng I believe. Trong khoa học, chúng ta không có belief hay I believe, mà là I think, I consider.

8. Tránh cách viết chuyển động từ thành danh từ

Không nên viết:
Utilization of marine plant species for food production will bring about a reduction in food costs and creation of cheaper sources of calories. (23 chữ)
Nên viết:
Utilizing (Using) marine plant species to produce food will reduce food costs and create cheaper sources of calories. (17 chữ)
9. Tránh những chữ có tiếp vĩ ngữ “ing”

Tránh viết kiểu
Nên viết
They were meeting to ...
They met to …
He will be going to ...
He will go to ...

10. Chú ý đến văn phong

Như đề cập phần trên, trong khoa học, chúng ta cố gắng diễn tả, chứ không phải cố gắng gây ấn tượng (nói theo tiếng Anh là EXPRESS chứ không phải IMPRESS). Khi diễn tả chính xác và có thông tin, thì việc gây ấn tượng là phần hệ quả. Một vài qui tắt sau đây sẽ giúp cho văn phong sáng sủa hơn:
  • Dùng từ đơn giản. Nên nhớ là đơn giản (simple), chứ không phải ngớ ngẩn (simple-minded);

  • Viết câu văn ngắn. Câu văn ngắn là câu văn có khoảng 17 đến 23 chữ;

  • Viết những đoạn văn ngắn. Và, nên nhớ bắt đầu mỗi đoạn văn bằng một câu văn chủ đề;

  • Cố gắng, khi có thể, định lượng hoá thông tin;
  • Tránh những nhóm từ bổ nghĩa không thêm thông tin vào điều mình muốn nói.

Tránh viết kiểu
Nên viết
the majority of
88%–90%
He will be going to ...
He will go to ...
Let us concentrate first on the X molecule, which is very large and, therefore, it ...
The X molecule is very large; therefore, it ...
This interesting observation suggested to us that we should perhaps carefully examine X, which revealed that ...
Careful examination of X revealed that ...
This cleverly conceived experiment ...
This experiment . . .

  • Tránh dùng những câu chữ tự khen như:
Our tremendously unique method for ...
Our laboratory is the best known in the world for ...
We have the largest collection of ... in the country.
  • Tránh dùng những từ ngữ hoa mĩ, khoa trương:

Không nên viết
Nên viết
Unless all parties to the plan interface imminently, the project will be rendered inoperative
Unless everyone cooperates now, the project wont work ;
If everyone cooperates, the project will
be successful. (Positive tone)



11. Nên quan tâm đến người đọc

Người đọc có thể không làm trong lĩnh vực của tác giả, nên khó hiểu những thuật ngữ chuyên ngành. Do đó, cố gắng sử dụng những từ ngữ mà người thường (ngoài ngành) có thể hiểu được. Ví dụ:

Thay vì viết
Nên viết
Nosocomial infection
Hospital-acquired infection
Iatrogenic condition
Physician-induced condition

12. Sử dụng bố cục song song

Không nên viết
Mà nên viết
His job consisted of organization of new projects, researching current projects, to write progress reports, and being available to help the junior staff.
His job consisted of organizing new
projects, researching current projects,
writing progress reports, and helping
the junior staff.

We couldn’t decide between rental, leasing, and buying a new spectrophotometer.
We couldn’t decide between renting,
leasing, and buying a new
spectrophotometer.


Tránh dùng quá nhiều những câu văn quá ngắn và “choppy”.

Không nên viết : Good expository writing is difficult. It is an important skill to master. It requires much time and effort. It is worth it. Writing is necessary for job advancement. It improves self-image. It provides satisfaction. Everyone should take a good course in business writing.

Nên viết: Good expository writing is difficult, but it is an important skill to master. Although it requires much time and effort, it is worth it. Writing is necessary for job advancement. It also improves self-image and provides satisfaction. Everyone should take a good course in business writing.

Tránh sử dụng quá nhiều những chữ bổ nghĩa
The attractive, upgraded, computerized, large, heavy, expensive, recently purchased, spectrophotometer ...
Câu trên có đến 8 chữ bổ nghĩa: attractive, upgraded, computerized, large, heavy, expensive, recently purchased!
The computer-based integrated decision support environment ...

Câu này tuy có ít chữ bổ nghĩa hơn, nhưng vẫn quá nhiều so với số chữ trong câu văn. Đây là cách viết “tham vọng”, và rất dễ rơi vào cái bẫy khó hiểu.

Tránh dùng những chữ có tiếp vĩ ngữ “ize” và “wise”

Có thể chấp nhận được
Không hay khó chấp nhận
The car has been winterized.
The plan has been operationalized.
Clockwise (in the manner of)
Budgetwise (meaning: with respect to the
budget)

Không nên ngắt những từ vô định:


Không nên viết: Be sure to quickly go ...
Nên viết: Be sure to go quickly ...
Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có thể ngắt vài từ vô định để làm cho câu văn trôi chảy hơn. Chẳng hạn như những câu sau đây:
  • She will try to more than justify the cost of the computer.
  • She will try to justify more than the cost of the computer.
  • She will try more than to justify the cost of the computer.
Chú ý 3 câu trên không có cùng nghĩa! Ý nghĩa câu văn khác, vì tác giả đặt chữ bổ nghĩa “more than” khác nhau để chuyển tải ý nghĩa chính xác hơn.

(Còn tiếp)
nguyenvantuan.net

Chiến lược viết bài văn khoa học rõ ràng (1)




http://cache.lifehacker.com/assets/images/17/2011/04/clarity-good.jpegNăm ngoái, tôi có dịp đi nói chuyện và hướng dẫn cách viết bài báo khoa học trong workshop của ĐHQG TPHCM và một số chương trình CME của sanofi aventis. Trong những buổi nói chuyện / giảng như thế, tôi học rất nhiều bài học từ học viên. Học được những khó khăn và thói quen mà chính tôi cũng từng hay gặp và từng làm. Tôi có hứa là năm nay sẽ viết tiếp theo loạt bài về “văn chương khoa học”. Và, bài này là khai bút đầu năm về mục này. Loạt bài này sẽ kéo dài (mà tôi chưa đoán được bao nhiêu), nhưng các bạn quan tâm có thể theo dõi …

Một tiêu chuẩn quan trọng nhất trong văn chương khoa học – nói theo tiếng Anh – là clarity – trong sáng. Khi được hỏi cái motto gì cho viết bài báo khoa học, một nhà khoa học trứ danh trả lời rằng có thể tóm lược trong 3 chữ. Đó là clarity, clarity, và clarity. Trong sáng, trong sáng, và trong sáng. Nhưng tôi nghĩ ngoài trong sáng ra, một tiêu chuẩn khác cũng quan trọng không kém là chính xác. Chính xác ở đây có nghĩa là dùng chữ chính xác và thích hợp, không để cho người đọc phải hiểu cách khác.
Văn chương khoa học dĩ nhiên là khác với văn thơ. Tôi vốn mê thơ của Hoàng Cầm và Lê Đạt. Một trong những bài thơ tôi thích nhất có lẽ là bài Tình cầm của thi sĩ Hoàng Cầm, trong đó có đoạn: Nếu anh còn trẻ như năm ấy / Quyết đón em về sống với anh / Những khoảng chiều buồn phơ phất lại / Anh đàn em hát níu xuân xanh. (Bài này được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc tuyệt hay, nhất là qua tiếng hát của Thái Thanh hoặc Lệ Thu). Những câu thơ gieo vần “đâu ra đấy”, những âm thanh bằng trắc đan xén, quấn quyện nhau, làm ai yêu thơ khó bỏ qua được. Nhưng còn ý thì sao? Thật không dễ hiểu chút nào. Nhưng chiếu theo tiêu chuẩn của văn chương khoa học, thì cách viết đó có vấn đề. Vấn đề là không rõ ràng. Chẳng hạn như “còn trẻ”, thì câu hỏi đặt ra là “thế nào là trẻ, tuổi nào là trẻ?” Hay như “năm ấy” thì câu hỏi nhà khoa học hỏi ngay là “năm nào?” Hoặc “quyết đón em về sống với anh” thì câu hỏi đặt ra là “sống ở đâu?” Còn khái niệm “xuân xanh” có nghĩa là gì? Nói tóm lại, văn chương khoa học đòi hỏi phải mô tả được những câu hỏi what, where, when, whom, v.v. Xin nói thêm rằng tôi chỉ lấy câu thơ ra làm ví dụ cực đoan thôi (để vui), chứ chẳng ai ngớ ngẩn đến nổi đem tiêu chuẩn văn chương khoa học để đi soi rọi một bài thơ.
Ấy vậy mà thỉnh thoảng tôi bắt gặp những văn phong như thế trong bài báo khoa học từ Việt Nam. Có lẽ tác giả chịu sự chi phối của văn thơ quá, nên khi viết bài báo khoa học họ cũng đem loại văn phong mờ mờ ảo ảo đó vào bài báo. Chính tôi ngày xưa cũng từng bị sếp phê bình. Nhiều khi đọc bài tôi viết, sếp tôi nhẹ nhàng nói “Văn của mày poetic quá, tao nghĩ mày viết thơ chứ không phải viết văn khoa học”. Đó dứt khoát không phải là lời khen; đó là một lời chê có trình độ! Phải một thời gian dài mới xoá được cái tính thơ đó. Ngoài văn chương mang màu sắc thơ, tôi còn bắt gặp nhiều câu văn mang tính rhetoric và ví von (đại kị trong khoa học) của “phe ta” trong những bài báo khoa học và luận văn. Điều này thì tôi nghĩ có lẽ nhiều đồng nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những khẩu hiệu nhan nhản ở trong nước. Có những khẩu hiệu mà đọc lên thì nghe hay hay, nhưng phân tích kĩ thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Chẳng hạn như “phe ta” hay có cách nói “bài toán cần giải là …” cho một vấn đề xã hội. Một cách viết như thế chắc chắn bị trả lại ngay, vì người bình duyệt nghĩ rằng tác giả đang viết cho báo đại chúng hay tuyên truyềm, chứ không phải viết cho tạp chí khoa học.
Muốn đạt một văn phong trong sáng, cần phải làm gì? Sách dạy tiếng Anh, sách chỉ dẫn cách viết bài báo khoa học có rất nhiều qui ước và nguyên lí. Ở đây, tôi sẽ lấy kinh nghiệm của chính mình (là người duyệt và biên tập bài báo) cộng với sách vở để đưa ra một số “chiến lược” mà tôi hi vọng sẽ giúp các bạn trong việc viết một bài báo khoa học cho đạt. Có thể những chiến lược sau đây chưa đầy đủ (hay có thể sai – theo quan điểm nào đó), và nếu như thế thì các bạn phải góp ý thêm. Sau đây là những chiến lược cần thiết để đạt tiêu chuẩn trong sáng.

1. Viết sao cho  để người đọc không phải nỗ lực để hiểu mình viết gì
Độc giả (kể cả chuyên gia bình duyệt) lúc nào cũng muốn tiếp thu lượng thông tin tối đa với số từ tối thiểu. Người ta có câu rằng người có nhiều ý tưởng thường là người nói ít chữ. Để đạt tiêu chuẩn này, cần tuân theo vài qui ước sau đây:
  • Không dùng những câu văn phức tạp mà người đọc phải đọc hơn 1 lần để hiểu.
  • Đi thẳng vào vấn đề mà tác giả muốn nói trong một đoạn văn. Không để cho độc giả chờ đến cuối đoạn văn mới biết tác giả muốn nói gì. Cách viết "This method can be done in two steps" là câu văn thiếu thông tin, vì người đọc không biết 2 bước là gì. Nhưng nếu tác giả viết "This method can be done in two steps: initiation and realization" thì có thông tin hơn. 
  • Bắt đầu một đoạn văn với một câu văn tuyên bố (declarative sentence), có khi còn gọi là topic sentence hay câu văn chủ đề. Câu văn tuyên bố nói cho độc giả biết ý chính của đoạn văn là gì. Cần lưu ý rằng người đọc rất bận, nên có thể họ chỉ đọc câu văn chủ đề, chứ có khi không đọc hết những câu văn tiếp theo.
  • Tiếp theo câu văn tuyên bố là những câu văn “yểm trợ” cho ý tưởng. Nên nhớ rằng mục tiêu của viết bài báo khoa học là trình bày và thuyết phục, chứ không phải để gây ấn tượng. Để thuyết phục, thông tin rõ ràng là yếu tố quan trọng nhất.
Ví dụ như câu văn "Fragility fracture is a major public health problem, because fracture is associated with increased risk of subsequent fracture and reduced life expectancy.  Individuals with a pre-existing fracture are associated with a two-fold increase in the risk of re-fracture (1). Moreover, approximately 20% of women with a hip fracture die within 12 months after the event (2)." Câu đầu là câu tuyên bố tầm quan trọng.  Hai câu sau trình bày bằng chứng để yểm trợ cho câu văn tuyên bố.
  • Tránh những từ mà độc giả có thể không hiểu. Không bao giờ gây ấn tượng bằng những từ gốc Latin, Hi Lạp. Không nên để người đọc phải dùng từ điển để biết tác giả muốn nói gì!
  • Tránh dùng những “biệt ngữ” (jargon) chỉ có người trong ngành mới hiểu.
  • Cẩn thận với cách dùng những chữ như former và latter. Ví dụ như:
“Please take care of my son and my cat while I’m away. Let the former stay out all night. Be sure the latter is in by 11 P.M.”
ở đây, chữ former đề cập đến my son, và latter đề cập đến my cat. Nhưng nếu người đọc bận rộn và hiểu sai thì rất … nguy hiểm! Thay vì viết như thế, có thể viết rõ ràng hơn như sau:
“Please take care of my son and my cat while I’m away. Be sure the former is in by 11 P.M.; let the latter stay out all night.”

2. Tránh những câu chữ tối nghĩa do đặt  bổ ngữ (modifier) sai chỗ

Không nên viết như
Mà nên viết như thế này

On Tuesday, a volumetric flask was brought to the glassware washing room by a technician with a broken neck.

Ai bị gãy cổ? Cái lọ thí nghiệm hay kĩ thuật viên?

On Tuesday, a volumetric flask with a broken neck was brought to the glassware washing room by a technician.

The spectrophotometer should be turned off before leaving the laboratory.

Có thật là máy spectrophotometer rời phòng thí nghiệm?
After the drink was spilled on them, the photomicrographs were ruined.

After spilling the drink, the photomicrographs were ruined.
Làm sao mà máy photomicrographs làm tràn đồ uống?
The spectrophotometer should be turned off before you leave the laboratory.

A fasting urine specimen should be collected.

Có ai nghe đến cái gọi là “urine specimen fasting” bao giờ! 
A urine specimen should be collected after the patient has fasted for x hours.


3. Tránh những đại danh từ “hờ hững”
Nhiều người có thói quen viết như it is well-recognized that, it is generally agreed that, it has been shown that ... Những đại danh từ này có cái lợi ích là cho chúng ta bắt đầu câu văn một cách trơn tru, nhưng chúng chẳng có ý nghĩa gì cả.  Nếu nói it is generally agreed that thì người ta sẽ hỏi ai đồng ý, tại sao không chỉ ra cụ thể ai.  Viết văn với những đại danh từ hờ hững như thế là cách viết lười biếng!

Không nên viết như
Mà nên viết như thế này

It has been shown that ...
Ai chỉ ra ... ?

Hooper and Cooper (1984) showed that
…

It is well known that ...

Well known đối với ai?
A survey done by Smith and Jones at ABC University has indicated that 57% of faculty members at the university know that ...

We noted that most of the rabbits were sick and all the rats had bald spots. This finding ...
Phát hiện nào?
Taken together, the findings that most of the rabbits were sick and all the rats had bald spots indicated that ...



4. Tránh từ ngữ tối nghĩa do câu văn phức tạp
  • Dùng câu văn ngắn, trực tiếp, và không nhập nhằng nước đôi.
  • Tránh dùng những câu văn dài và “quấn quýt”.
Ví dụ: “Looking back on it, it is curious that nobody was heard to ask why, since vitamin A has long been known to be very insoluble in aqueous media in general, scientists did not set about looking for a likely carrier protein that might be responsible for transporting vitamin A to its target tissues.” (Russell Baker, New York Times, 1/2/1986)
Câu văn trên có thể chấp nhận được đối với báo chí đại chúng, nhưng không thể chấp nhận được trong khoa học. Những câu chữ như looking back on it, nobody was heard, has long been known, v.v. là những câu chữ mù mờ, không có thông tin. Văn chương khoa học phải hàm chứa thông tin.

5. Tránh câu chữ mù mờ mà người đọc có thể hiểu khác hay hiểu nhiều nghĩa.

5.1 Bổ ngữ mập mờ. Nên đổi những câu chữ hay ý kiến định tính bằng những thông tin định lượng.

Ví dụ:

Không nên viết: “most” or “many”
Nên viết: 68%–70%
Không nên: This experiment requires enormous numbers of test tubes ...
Nên: This experiment requires 133 test tubes ...
Những gì gọi là enormous đối với tác giả có thể không phải là enormous đối với người đọc. Nên trình bày thông tin định lượng.

5.2 Bổ ngữ về thời gian và và không gian
Nên viết chính xác (nếu có thể) ngày tháng, thay vì viết “recently” hoặc “here.” Ví dụ từ recently về một bài báo năm 1995, nhưng nếu người đọc năm 2005 thì rất khó mà nói recently được. Hoặc chữ here trong một bài báo tác giả ở Boston chẳng có ý nghĩa gì nếu người đọc ở … Việt Nam.
5.3 Câu chữ có thể hiểu khác
Cách viết “lightly anesthetized animals ...” có thể hiểu là tác giả cẩn thận và nhẹ nhàng với chuột thí nghiệm, nhưng cách viết đó cũng có thể hiểu là những chuột thí nghiệm chịu đau đớn vì tác giả chỉ gây mê nhẹ nhàng!
Chữ “tree” có thể hiểu là cây cau dừa đối với người sống ở Thái Lan, nhưng cũng có thể là cây linh sam (fir tree) đối với người sống ở Maine.
Câu “If you leave the door with the venetian blind open, the alarm will go off” có thể có nghĩa là nếu bạn rời phòng thì đồng hồ báo động sẽ tắt, hay nếu bạn đóng cửa nhưng để cái màn trống thì đồng hồ báo động sẽ tắt?
Sau đây là vài ví dụ vui khác:

Để giới thiệu một người bạn lười biếng:
“In my opinion, you will be very fortunate to get this person to work for you.”

Để mô tả một người dớ dẩn:
“I most enthusiastically recommend this candidate with no qualifications whatsoever.”

Để mô tả một cựu nhân viên “khó tính”:
“I am pleased to say that this person is a former colleague of mine.”

Để mô tả một ứng viên mà người tuyển dụng không cần đọc đơn:
“I urge you to waste no time in making this candidate an offer of employment
nguyenvantuan.net