Trong văn phong khoa học, có khái niệm cluttered writing, đề cập đến cách viết làm cho độc giả sao lãng cái thông điệp chính của câu văn. Clutter tiếng Anh có nghĩa là ồn ào, hoạt náo, lộn xộn. Những từ cluttered có nghĩa là những từ làm cho người đọc cảm thấy câu văn ồn ào, và lộn xộn, trở nên khó hiểu. Câu văn dưới đây chính là một ví dụ tiêu biểu, vì khi đọc xong câu văn, người đọc bị hoa mắt với những trạng từ và quên đi ý chính của tác giả là gì.
“The righteous thing is that a foreign language is nothing more than a foreign language which may due to some whatsoever reasons and howsoever it is coexist with the mother tongue, the very language a person eversince his first day thrown by All Mighty down onto the very lap of his mother starts to intensionally and intentionally hear, to intuitively sense, to indefectibly imitate and then to industriously develop.”
English is not just for saying Hello, asking for direction, or crying for Help!. And when a learner of English can use English to exactly and elaborately and correctly and fully and understandably and a-hundred-more-ly’s express his/her idea, opinion or theory, he/she can say that the target of being good at English is satisfactorily achieved!
Đó là câu văn tôi trích từ bài luận văn chỉ dẫn cách học tiếng Anh của ông Hoàng Hữu Phước, người gây ra vài tranh cãi gần đây về phong cách “tranh luận” độc đáo của ông. Câu văn đó nổi bật ở chỗ không chỉ là số từ (69 từ trong câu đầu, 55 từ trong câu hai), mà nó có rất nhiều trạng từ: intensionally, intentionally, intuitively, indefectibly, industriously, exactly, elaborately, correctly, fully, understandably, a-hundred-more-ly, satisfactorily. Riêng chữ a-hundred-more-ly thì chắc ông chế ra, chứ theo tôi biết, tiếng Anh không có chữ đó. Hai câu văn 124 chữ, mà có đến 12 trạng từ (gần 10%)! Có thể nói rằng đó là một câu văn rất lạ lùng, và có lẽ là độc nhất vô nhị trong văn tiếng Anh.
Viết bài báo khoa học là một hình thức truyền đạt ý tưởng và thông tin. Những câu chữ ồn ào không giúp ích gì cho mục tiêu đó. Ngày nay, mỗi chúng ta bị dội bom thông tin quá nhiều. Chỉ tính riêng khoa học, có thống kê cho biết lượng thông tin tăng 4.7% mỗi năm, và cứ 15 năm thì lượng thông tin tăng gấp 2 lần. Trong bối cảnh đó viết văn đơn giản và rõ ràng là yếu tố rất quan trọng để nâng cao hiệu quả của việc truyền đạt ý tưởng. Một trong những cách để đơn giản hoá câu văn là cố gắng tránh trạng từ và tính từ. Nên nhớ là chỉ “cố gắng” thôi, chứ trong vài trường hợp, chúng ta vẫn phải sử dụng đến hai loại từ này để bổ nghĩa hay nhấn mạnh một điểm nào đó. William Zinnser, một chuyên gia về văn phong khoa học, nhận xét rằng:
Phần lớn trạng từ là không cần thiết. Bạn sẽ làm cho câu văn tối nghĩa và làm phiền độc giả nếu chọn một động từ có một nghĩa đặc biệt nào đó rồi thêm vào trạng từ mà cũng chỉ để nói lên một ý [….] Đa số tính từ cũng không cần thiết. Cũng như trạng từ, tính từ rải vào câu văn bởi những tác giả quên rằng khái niệm đã bao hàm trong danh từ.
Nhưng không phải tính từ hay trạng từ nào cũng vô dụng. Một số câu văn cũng cần thiết có tính từ và trạng từ để bổ nghĩa. Cách dùng có thể tham khảo qua trang web Natural Language Toolkit (NLTK). Đây là trang web và software theo tôi là rất hay và có ích cho những ai cần tham khảo về cách viết tiếng Anh và phân tích tiếng Anh. Do đó, bài báo khoa học vẫn cần đến trạng từ và tính từ, nhưng tần số sử dụng có lẽ còn tuỳ thuộc vào văn cảnh và ý nghĩa của câu văn.
Xu hướng dùng tính từ và trạng từ rất khác nhau giữa các bộ môn khoa học. Tác giả Adam Okulicz-Kozaryn làm một phân tích thống kê về xu hướng dùng hai loại từ này trong các bài báo khoa học, và cho ra kết quả rất thú vị. Tác giả điểm qua 1000 bài báo công bố trong thời gian 2000 đến 2010 trong JSTOR. Ông dùng NLTK để tính số tính từ và trạng từ trong mỗi bài báo, rồi chia số này cho tổng số từ trong bài báo. Kết quả cho thấy tính từ và trạng từ chiếm khoảng 1 đến 1.15% tổng số từ trong bài báo khoa học. Tuy nhiên, phân bố thì rất khác nhau giữa các bộ môn. Đứng đầu tỉ lệ dùng tính từ và trạng từ là khoa học xã hội (1.15%). Các ngành khoa học nhân văn, luật, nghệ thuật, kinh tế cũng sử dụng khá nhiều tính từ và trạng từ. Những bài báo về khoa học tự nhiên có tỉ lệ tính từ và trạng từ thấp nhất (1%).
Như vậy, một bài báo trung bình (khoảng 6000 từ) thì có đến ít nhất 60 trạng từ và tính từ. Cũng cùng độ dài, số trạng từ và tính từ của các bài báo khoa học xã hội nhiều hơn 50% so với bài báo khoa học tự nhiên.
Tác giả (không phải tôi) kết luận rằng vì giới khoa học xã hội dùng nhiều tính từ và trạng từ nên bài báo của họ khó đọc và khó hiểu hơn là bài báo của giới khoa học tự nhiên. Tôi thì nghĩ kết luận này chưa phải là dữ liệu yểm trợ, vì tác giả mới cung cấp con số tính từ và trạng từ trong bài báo khoa học, chứ chưa đánh giá thế nào là khó hiểu/đọc và thế nào là dễ hiểu/đọc. Nhưng kết quả phân tích cũng đáng để chúng ta lưu tâm giảm số tính từ và trạng từ khi viết bài báo.
Tham khảo:
Okulicz-Kozaryn A. Cluttered writing: adjectives and adverbs in academic. Scientometrics 6/1/2013 Nguon nguyenvantuan.net.
|
Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013
Văn phong khoa học: tính từ và trạng từ
Cách viết “cover letter” cho tập san khoa học
Một trong những khó khăn và hơi tế nhị của người mới bắt đầu việc công bố quốc tế hay xuất bản khoa học là viết thư. Có hai loại thư để viết: thư đệ trình (cover letter) và thư xin tài liệu. Rất nhiều lần giảng ở trong nước, nhiều bạn hỏi tôi làm sao viết thư xin bài báo khoa học từ tác giả, và viết thư đệ trình bài báo cho tập san khoa học như thế nào. Tôi hứa sẽ giúp các bạn, và hôm nay tôi thực hiện lời hứa đó.
Sau khi đã hoàn tất bản thảo bài báo, bước kế tiếp là đệ trình bài báo đến một tập san. Ngày nay, việc đệ trình bài báo cho một tập san thường được thực hiện trực tuyến. Khi đệ trình trực tuyến, tác giả cần phải chuẩn bị sẵn 3 văn bản: thư đệ trình (cover letter), văn bản chuyển giao bản quyền (copyright transfer), và văn bản tuyên bố mâu thuẫn lợi ích (conflict of interest). Trong các văn bản đó, lá thư đệ trình rất quan trọng, bởi vì qua lá thư, tác giả phải thuyết phục ban biên tập rằng bài báo có tầm quan trọng và xứng đáng được công bố trên tập san.
Lá thư đệ trình là một cái acid test cho ban biên tập hay người phụ trách biên tập bài báo. Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy tôi không có thì giờ đọc hết bài báo; tôi chỉ nhìn qua lá thư đệ trình và bản abstract, rồi ra quyết định có nên gửi bản thảo ra ngoài cho bình duyệt hay không. Do đó, công việc quan trọng của tác giả là phải thuyết phục ban biên tập gửi bản thảo đi bình duyệt. Để đạt mục tiêu đó, tác giả phải tỏ ra chuyên nghiệp trong cách viết lá thư đệ trình. Lá thư đệ trình cần phải có những thông tin chính như sau:
Tựa đề bài báo. Đây là thông tin tối thiểu để ban biên tập có vài ý niệm về công trình nghiên cứu. Chẳng hạn như nếu tựa đề bài báo [theo kiểu viết ở bên nhà] là “Nghiên cứu XYZ ở Bệnh viện ABC, Huyện A, Tỉnh C, từ năm 2006 đến 2010” thì có lẽ ban biên tập không cần gửi ra ngoài để bình duyệt, vì chỉ qua tựa đề cũng biết tác giả chỉ quan tâm đến một vấn đề địa phương nào đó. Đây chính là lí do tại sao tôi đề cập thường xuyên rằng phải biết cách đặt tựa đề một cách khoa học và worldly.
Nội dung chính của bài báo. Tác giả cần có một đoạn văn ngắn để viết về bối cảnh hoặc câu hỏi nghiên cứu, phát hiện gì đáng chú ý, và nếu cần, một vài nét về phương pháp nghiên cứu.
Lí do gửi cho tập san. Câu văn này quan trọng nhất. Bất cứ một bài báo khoa học nào cũng có nhiều diễn đàn / tập san có thể đăng tải. Vấn đề là các tập san này có đẳng cấp rất khác nhau. Những tập san loại high profile (Nature, Science, New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, v.v.) chỉ công bố những công trình quan trọng, và họ từ chối rất nhiều (khoảng 90-99% bài báo gửi đến bị từ chối). Những tập san chuyên ngành thì dễ dãi hơn, nhưng tỉ lệ từ chối cũng dao động trong khoảng 70-80%, tuỳ vào chỉ số ảnh hưởng (impact factor - IF). Dù nhiều người không ưa chỉ số ảnh hưởng, nhưng sự thật vẫn là sự thật: những tập san có IF càng cao thì tỉ lệ từ chối càng cao, và bài báo nếu được công bố được trích dẫn nhiều và gây tác động lớn. Để thuyết phục công bố trên tập san lớn, tác giả phải viết một câu văn cho thấy nghiên cứu của mình là quan trọng và sẽ được độc giả của tập san quan tâm.
Hai câu văn mang tính cam đoan. Một câu văn tuyên bố rằng tất cả các tác giả đã đồng ý với nội dung bài báo. Câu văn khác cam đoan rằng bài báo chưa được gửi cho tập san nào.
Ngoài ra, lá thư còn phải có những thông tin về ngày tháng và tên của tổng biên tập. Tên của tổng biên tập hay người phụ trách phần học thuật và khoa học của tập san có thể tìm trong website của tập san (cần dùng Google, nếu không có sẵn).
Sau đây là vài cách viết mẫu và ghi chú của tôi.
Trong trường hợp bài báo đã qua bình duyệt lần đầu, và tác giả tái đệ trình bản thảo phiên bản 2, thì cách viết có phần hơi khác so với lá thư đệ trình lần đầu. Lá thư loại này cần đạt hai mục tiêu chính: chỉ ra cho được điểm tốt mà chuyên gia bình duyệt đã khen, và cho biết tác giả đã trả lời tất cả những nhận xét của các chuyên gia bình duyệt. Một ví dụ cụ thể như sau:
Một loại thư khác là email … xin bài vở. Nhiều khi chúng ta tìm được một bài báo thú vị hoặc quan trọng trong Pubmed, nhưng tập san chưa “mở” cho chúng ta đọc, nên không có nguyên bản bài báo. Trong trường hợp này, chúng ta có thể viết email (không cần thư) để xin bài. Làm sao biết địa chỉ email của tác giả? Ngày nay, địa chỉ nơi làm việc của tác giả, kể cả email, đều được công bố trên bài báo khoa học hay Pubmed, nên việc tìm địa chỉ email không quá khó khăn. Một cách khác là dùng Google để tìm địa chỉ (nơi làm việc và địa chỉ email).
Nội dung email có thể chỉ đơn giản như sau:
Hi vọng những cách viết thư trên đây sẽ đem lại may mắn cho các bạn.
Nguon nguyenvantuan.net
|
Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012
Tại sao bài báo khoa học bị từ chối?
Bất
cứ ai làm khoa học cũng có hơn một lần ngậm ngùi thấy tác phẩm của mình
bị từ chối. Ngày nay, tin bị từ chối thường được gửi qua email, mà dòng
đầu của lá thư thường có câu đại khái như “Thưa giáo sư ABC: Chúng
tôi đau lòng báo tin cho giáo sư biết rằng bài báo của giáo sư không
được chấp nhận cho công bố trên tập san XYZ. Chúng tôi nhận khoảng 1000
bản thảo mỗi năm, và chúng tôi phải từ chối khoảng 90%, dù những bài báo
đó rất tuyệt vời. Cám ơn giáo sư đã cho chúng tôi cơ hội xem qua
công trình của giáo sư, và hi vọng rằng trong tương lai, giáo sư sẽ
tiếp tục gửi bài cho chúng tôi.” Thật ra, họ nói là “đau lòng”, chứ
trong thực tế thì họ chẳng đau lòng chút nào cả! Họ nói là đã đọc qua,
nhưng chắc gì họ thật sự đã đọc hết bài báo. Kinh nghiệm của tôi cho
thấy, họ chỉ đọc tựa đề, bản tóm tắt, và xem qua vài bảng số liệu hay
biểu đồ mà thôi, và họ quyết định từ đó. Do đó, để nâng cao xác suất
được chấp nhận, cần phải đặt tựa đề bài báo cho thích hợp, soạn bảng
biểu cho thật tốt và công phu.
Đọc
những lá thư như trên là một kinh nghiệm đau lòng. Có lần một nghiên
cứu sinh của tôi khóc ròng khi nhận lá thư từ chối, và chị ấy phải mấy
cả 3 tuần lễ mới “hồi phục”. Phản ứng trước quyết định bị từ chối có khi
rất … cảm tính. Chẳng hạn như lá thư nổi tiếng dưới đây của một tác giả
gốc Âu châu gửi cho tổng biên tập của American Journal of Epidemiology (tập san số 1 vè dịch tễ học trên thế giới mà tôi là một người duyệt bài) có đoạn viết:
Dr. Szklo,
What could I expect from an american (sic) editor? I will no longer buy american (sic) products.
Rõ
ràng, tác giả rất giận dữ. Chú ý rằng tác giả không thèm có chữ “Dear”
trước tên của ông Szklo. Ông còn “giận cá chém thớt” bằng cách đe dọa
không mua hàng hóa của Mĩ. Có lẽ vì quá giận, nên vị tác giả này thậm
chí viết sai chính tả (hay cố tình đánh vần thường cho chữ American)!
Là
người bình duyệt và biên tập cho một số tập san khoa học qua nhiều năm,
tôi thu thập được một số kinh nghiệm và thông tin về số phận những bài
báo khoa học bị từ chối. Mỗi năm, ban biên tập thường có một buổi họp
cuối năm để nghe nhà xuất bản báo cáo về số lượng bản thảo được nộp, số
bài bị từ chối, và lí do bị từ chối. Qua những cuộc họp này, tôi có thể
biết được một số lí do bài báo bị từ chối chính. Những lí do này có thể
tóm lược trong 4 nhóm:
- Tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
- Cách trình bày dữ liệu và cách viết
- Diễn giải kết quả nghiên cứu
Chi
tiết của những lí do vừa đề cập trên được đề cập trong bài nói chuyện
(kèm theo đây). Những công trình nghiên cứu “me too” (tức lạp lại hay
bắt chước nghiên cứu trước đây) sẽ khó có cơ hội công bố trên các tập
san có tiếng. Những nghiên cứu mà câu trả lời chẳng có ảnh hưởng gì đến
chuyên ngành, chẳng gây tác động gì đến chính sách công hay thực hành
lâm sàng cũng khó có cơ hội được công bố. Những vấn đề liên quan đến
phương pháp nghiên cứu (mô hình không thích hợp, phương pháp đo lường
kém, phương pháp phân tích dữ liệu sai, thiết kế sai, v.v.) cũng là một
trong những lí do bị từ chối nhiều nhất. Bảng dưới đây thống kê những lí
do bị từ chối phổ biến nhất. Gần 3/4 bài báo bị từ chối là do khiếm
khuyết về phương pháp nghiên cứu và phương pháp luận.
|
Một số lí do chính
|
Phần trăm
|
|
Phương pháp và phương pháp luận
|
74.3
|
|
Tầm ảnh hưởng thấp hay không có ảnh hưởng
|
60.3
|
|
Văn phong
|
58.4
|
|
Tổng quan tài liệu
|
50.9
|
|
Phân tích dữ liệu
|
42.1
|
|
Cấu trúc bài báo
|
34.6
|
|
Chất lượng và tính nghiêm túc
|
30.0
|
|
Lấy mẫu
|
29.2
|
|
Phần kết luận
|
27.6
|
|
Phần bàn luận
|
25.2
|
|
Tài liệu tham khảo
|
23.6
|
Hai
nhóm nguyên nhân bị từ chối khác là văn phong khoa học và diễn giải kết
quả. Văn phong khoa học dở, tiếng Anh sai quá nhiều, cách trình bày dữ
liệu lượm thượm, v.v. thường làm cho người bình duyệt bực mình và rất dễ
bị từ chối. Ngoài ra, kết luận không phù hợp với dữ liệu cũng là một
trong những lí do bị từ chối khá thường xuyên.
Biết
được lí do bài báo bị từ chối cũng là một cách học. Học để nâng cao xác
suất được chấp nhận của bài báo kế tiếp cao hơn. Nếu những phân tích
trên đây cung cấp một thông điệp chính, tôi nghĩ đó là vấn đề ý tưởng và
phương pháp. Đừng phí thì giờ cho những ý tưởng làng nhàng tủn mủn,
những ý tưởng “mickey mouse”, vì những nghiên cứu như thế sẽ chẳng dẫn
tác giả đi đến đâu trong khoa học. Ý tưởng hay mà phương pháp không
thích hợp cũng khó có cơ may được công bố. Bởi vì gần 75% bài báo bị từ
chối là do khiếm khuyết về phương pháp, nên các tác giả cần phải đặc
biệt quan tâm đến phần phương pháp nghiên cứu.
Thật ra, bài báo bị từ chối có khi là một cơ hội hay. Theo một phân tích mới đây,
những bài báo bị từ chối sau khi được chỉnh sửa lại thường được công bố
trên những tập san có impact factor cao. Do đó, không nên buồn khi
thấy công trình của mình bị từ chối, mà nên xem đó là một cơ hội để làm
cho tốt hơn và hay hơn.
N.V.T
Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012
Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
| Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint |
Mục tiêu của bất cứ bài nói chuyện nào cũng là chuyển giao thông tin. Chuyển thông tin từ một cái đầu sang nhiều cái đầu. Không chỉ chuyển giao, mà còn phải chuyển giao một cách có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả, diễn giả cần phải có nội dung tốt, một bộ slide hoàn chỉnh, và một phong cách trình bày chuyên nghiệp. Chỉ khi nào một bài thuyết trình hội đủ 3 nhu cầu trên thì mới có thể xem là thành công.
Nhưng trong thực tế, tôi đã thấy rất nhiều bài nói chuyện trong các hội nghị trở thành nhạt nhẻo, và khán giả chẳng học hỏi được gì từ bài nói chuyện. Chúng ta có câu Chiếc áo không làm nên thầy tu. Tương tự, nếu diễn giả có một nhúm slide, chưa chắc diễn giả đó đã có một bài thuyết trình. Một nhúm slide khác với một bài thuyết trình. Đã từng tham dự nhiều hội nghị và hội thảo ở Việt Nam, tôi rút ra một số kinh nghiệm, hay nói đúng hơn là một số sai lầm phổ biến dưới đây.
Những sai lầm khi soạn slide
1. Vấn đề chọn màu. Một trong những sai lầm phổ biến nhất là cách chọn màu cho slide. Có hai màu diễn giả cần phải chọn: màu nền (background color) và màu chữ (text color). Nhiều diễn giả không chú ý nên chọn màu không thích hợp. Chẳng hạn như nền màu xanh đậm mà chữ màu đỏ hay màu đen, hoặc nền màu trắng nhưng chữ màu vàng, v.v. là không thích hợp. Không thích hợp vì rất khó đọc. Nhiều người Việt có thói quen chọn màu đỏ chói làm màu nền, và đó là một cách chọn không thích hợp, vì màu đỏ là màu “high energy” làm cho người đọc rất khó chú ý.
Nếu hội trường rộng, nên chọn màu chữ sáng (màu vàng, trắng) trên nền tối (màu xanh đậm). Nếu hội trường nhỏ hay trung bình, nên chọn chữ màu đậm (xanh đậm hay đen) trên nền sáng (màu trắng).
Một ví dụ về chọn màu nền (mây) và màu chữ không thích hợp
Mầu sắc
Tránh kết hợp mầu đỏ và xanh lá cây vì rất nhiều người bị mù mầu với sự kết hợp này
2. Vấn đề chọn kiểu chữ (font).
Kiểu chữ có ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu và tốc độ đọc. Nhiều diễn
giả không chú ý đến font chữ khi soạn slide, nên gây khó khăn cho khán
giả. Có hai loại kiểu chữ chính: kiểu chữ có chân và kiểu chữ không có
chân (sans serif). Kiểu chữ có chân tiêu biểu là Time, Times New Roman, Cambria. Kiểu chữ không có chân là Arial, Verdata, Calibri.
Nhiều người Việt thích chọn kiểu chữ có chân vì họ nghĩ đó là kiểu chữ
đẹp. Đẹp thì đúng, nhưng là một sai lầm trong PPT, vì có nhiều nghiên
cứu chỉ ra rằng kiểu chữ có chân làm người ta tốn thì giờ đọc hơn là
kiểu chữ không có chân. Đó cũng chính là lí do tại sao các “đại gia”
internet như Yahoo! và Google dùng chữ không có chân trên các trang web
của họ.Tránh kết hợp mầu đỏ và xanh lá cây vì rất nhiều người bị mù mầu với sự kết hợp này
Ngộ độc Powerpoint!
Có diễn giả thích “trang trí” chữ bằng cách làm bóng (shadow) cho chữ. Đây là một kĩ thuật chẳng những mất thì giờ, mà còn phản tác dụng, vì rất khó đọc và nhức mắt. Tuyệt đối không “trang trí” chữ bằng bóng!
3. Khổ chữ. Không gì khó chịu hơn khi diễn giả trình bày slide mà khán giả không đọc được vì khổ chữ quá nhỏ. Nhưng trong thực tế thì vấn đề này xảy ra rất nhiều lần, mà diễn giả thì có vẻ rất vô tư, không quan tâm đến khán giả. Kinh nghiệm của tôi cho thấy nên chọn cỡ chữ từ 18 đến 30. Nếu chọn kiểu chữ Arial thì khổ chữ 18 hay 20 là hợp lí; nếu chọn kiểu chữ Calibri thì kích thước phải cỡ 25 hay 30 mới dễ đọc. Mỗi slide nên có tựa đề, và tựa đề nên có kích thước 35 đến 45. Nếu có ghi chú (footnote) thì có thể dùng kích thước 12.
4. Quá nhiều chữ trong slide. Một trong những sai lầm phổ biến nhất là diễn giả trình bày quá nhiều chữ trong một slide. Có nhiều slide, tôi không phân biệt được là một đoạn văn hay là một power point. Thật vậy, có nhiều người vì lí do nào đó (có thể là lười biếng) nên cắt từ Word và dán vào slide. Cũng có người có thể do sợ không thuộc bài, nên viết hết những câu văn trên slide như là một văn bản. Đây là một sai lầm tai hại, vì khán giả sẽ không theo dõi được. Nghiên cứu tâm lí chỉ ra rằng, một người bình thường chỉ có thể lĩnh hội nội dung slide trong vòng 20-30 giây; nếu qua thời gian đó mà không lĩnh hội được thì họ sẽ bỏ, và diễn giả đã thất bại trong việc truyền đạt thông tin.
Để khắc phục vấn đề này, cần phải biết “qui ước n x n”. Theo qui ước này, nếu slide có n dòng, thì mỗi dòng chỉ nên có n chữ. Chẳng hạn như nếu slide có 5 dòng thì mỗi dòng nên có 5 chữ. Một slide có 6 dòng trở nên là quá nhiều. Số dòng lí tưởng là 3-5.
- Văn bản: Loãng xương là một bệnh với đặc điểm mật độ xương suy giảm dẫn đến gia tăng nguy cơ gãy xương.
- Telegraphic: Loãng xương – mật độ xương giảm à nguy cơ gãy xương tăng.
Những vấn đề liên quan đến nội dung
6. Không có thông điệp chính. Có nhiều hội nghị mà chúng ta khi nghe xong một bài thuyết trình nhưng chẳng biết diễn giả muốn nói gì, hay mình đã tiếp thu thông tin gì. Vấn đề ở đây là diễn giả đã thất bại cung cấp một thông điệp chính. Mỗi một bài thuyết trình phải có một thông điệp chính. Thông điệp chính cần phải trình bày trong một slide mà tiếng Anh gọi là money slide, hiểu nôm na là một “slide ăn tiền”. Nếu thông điệp chính không có trong bài thuyết trình thì khán giả cảm thấy mất thì giờ đến nghe vì chẳng có tiếp thu được thông tin gì xứng đáng. Do đó, trước khi soạn bài nói chuyện, diễn giả cần phải suy nghĩ cẩn thận cái money slide là gì, trước khi soạn những slide khác.
7. Chất lượng thông tin nghèo nàn. Nhiều bài thuyết trình mà trong đó diễn giả trình bày những thông tin nghèo nàn, thiếu tính liên đới đến chủ đề chính, và hệ quả là khán giả không nắm lấy vấn đề một cách logic. Làm một bài thuyết trình bằng powerpoint không phải là một thử nghiệm về kĩ năng viết, mà là kĩ năng chọn thông tin và thể hiện thông tin. Thông tin phải chính xác, đáng tin cậy, và được thể hiện một cách thích hợp. Chẳng hạn như trong khoa học, những cách thể hiện dữ liệu bằng biểu đồ bánh (pie chart) là vô dụng nhất, thiếu tính chuyên nghiệp nhất, và nhàm chán nhất.
8. Dùng hoạt hình quá nhiều. Nhiều người thích dùng hoạt hình (animation) trong bài thuyết trình. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Giới khoa học nói chung tương đối bảo thủ, hiểu theo nghĩa không thích đùa như trẻ con. Hoạt hình được xem là một hình thức khoe kĩ thuật của trẻ con. Hoạt hình còn làm cho khán giả phân tâm, thay vì tập trung vào thông tin thì họ lại chú ý đến những hình ảnh hay những con chữ nhảy nhót một cách … vô duyên. Cần tránh hoạt hình trong các báo cáo khoa học.
9. Dùng clipart quá nhiều. Ngoài hoạt hình, một số diễn giả có xu hướng dùng clipart một cách thái quá. Có thể dùng để minh hoạ cho một vài ý tưởng qua clipart, nhưng nếu dùng quá nhiều thì sẽ gây phản tác dụng, vì sẽ giảm sự tập trung của khán giả.
Những vấn đề liên quan đến phong cách trình bày
10. Đọc slide. Có quá nhiều diễn giả trong các hội nghị ở Việt Nam đọc slide, và đó là một “đại kị”. Khi diễn giả đọc slide, khán giả sẽ nghĩ diễn giả chỉ là một cái máy nói, không am hiểu vấn đề, và thụ động. Đọc slide làm cho diễn giả quay lưng lại với khán giả, trong khi “nhiệm vụ” của diễn giả là nói chuyện với khán giả chứ không phải nói với … slide. Đọc slide còn gây một ấn tượng phản cảm, vì khán giả nghĩ rằng diễn giả chỉ nói những gì ai đó đã soạn cho để nói (trong thực tế cũng có vấn đề này).
11. Nói chuyện không dính dáng gì đến slide. Ngược lại với đọc slide là những diễn giả nói chuyện chẳng liên quan gì đến slide đang trình chiếu. Dĩ nhiên, đây là một tín hiệu cho thấy diễn giả đang lạc đề hoặc không có tập dượt trước, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy diễn giả không nắm vững vấn đề. Vì không nắm vững vấn đề bắt đầu … lan man. Tình trạng này xảy ra rất nhiều khi diễn giả không phải là người soạn slide (mà ai đó soạn cho).
Nên nhớ rằng khi thuyết trình khoa học, diễn giả cần phải có tạo niềm tin bằng cách trình bày những nghiên cứu hay tác phẩm của mình. Nếu trong một bài nói chuyện mà diễn giả chẳng có cái gì của mình, toàn là dữ liệu của người khác, hoặc do người khác soạn, thì khán giả sẽ nghĩ rằng diễn giả chỉ là một cái "máy nói", một con rối.
12. Không dùng laser pointer. Một trong những “bệnh” khá phổ biến ở các diễn giả Việt Nam là không dùng laser pointer. Một bài thuyết trình khoa học có nội dung không phải dễ theo dõi, nhất là có những giản đồ phức tạp minh hoạ cho một qui trình khoa học, do đó diễn giả cần phải dẫn dắt khán giả bằng cách dùng laser pointer để chỉ đến những chỗ đang nói. Không có laser pointer, khán giả sẽ rất khó theo dõi, và họ sẽ bỏ cuộc nếu sau 30 giây mà không hiểu diễn giả muốn nói gì.
Nhưng cũng nên sử dụng pointer thích hợp. Một thói quen ngược lại không dùng pointer là dùng tuỳ tiện, quơ pointer ở những vị trí chẳng liên quan gì đến slide. Có người do vô ý hay hồi hộp cứ quơ laser pointer trên trần nhà làm khán giả cứ theo dõi và buổi trình bày trở nên hài hước.
13. Nói quá giờ. Một “bệnh” cực kì phổ biến ở các diễn giả Việt Nam là nói quá giờ. Nói quá giờ cho phép là một sự bất lịch sự đối với diễn gỉa kế tiếp (có người nói nặng nề hơn là “ăn cắp” thì giờ). Nói quá giờ còn gây rối loạn đến chương trình và gây khó khăn cho ban tổ chức. Cố gắng nói đúng giờ cho phép. Một ước tính quan trọng là mỗi slide trung bình tốn 1 phút. Do đó, nếu bài báo cáo 15 phút thì diễn giả chỉ nên có 15 slides, hay tối đa là 20 slides (kể cả tựa đề, phần cảm tạ, và conflict of interest).
14. Điệu bộ khi trình bày. Tuy không phổ biến lắm, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những diễn giả có những điệu bộ không thân thiện với khán giả. Những điệu bộ này có thể kể đến như bỏ tay vào túi quần, dùng ngón tay trỏ chỉ vào khán giả, khoanh tay ngang ngực, v.v. Những động thái như thế gây ấn tượng hống hách, xem thường khán giả, nên rất phản cảm. Cần phải tuyệt đối tránh!
15. Làm chủ toạ theo kiểu dạy đời. Ngoài những “bệnh” trên, còn có một bệnh khác tôi hay thấy trong các hội nghị ở Việt Nam là vai trò của chủ toạ. Rất thường xuyên tôi thấy chủ toạ đóng vai trò tóm lược và phê bình báo cáo của diễn giả. Có chủ toạ còn lên lớp cho diễn giả. Đó là một việc làm hết sức mất lịch sự, vô lễ, vô văn hoá khoa học, và phản cảm. Có nhiều trường hợp sự việc xảy ra một cách hài hước, vì người chủ toạ nói sai (do không có cùng chuyên môn, hay chuyên môn chưa vững). Trong thực tế, chủ toạ các phiên họp khoa học có nhiệm vụ giới thiệu bài nói chuyện, điều khiển buổi họp sao cho đúng giờ, và nếu không có ai đặt câu hỏi thì chủ toạ đóng vai trò “khơi mào” câu hỏi cho diễn giả. Nên nhớ rằng người chủ toạ không có chức năng tóm lược và phê bình bài báo của diễn giả.
***
Trên đây là một số vấn đề (nhưng cũng có thể xem là “sai lầm”) trong
báo cáo khoa học bằng powerpoint. Những sai lầm này đặc biệt phổ biến
trong các hội nghị ở Việt Nam mà người viết bài này từng trải nghiệm
trong thời gian trên dưới 10 năm qua. Sai lầm không phải là vấn đề (vì
ai cũng phạm phải); vấn đề là học hỏi từ sai lầm. Học hỏi từ người đi
trước là có hiệu quả nhất và nhanh nhất. Trong bài này, tôi đã trình bày
một số lời khuyên để khắc phục cho mỗi sai lầm. Tôi đã từng học hỏi từ
những sai lầm như thế này. Nhiều đồng nghiệp và nghiên cứu sinh của tôi
đã học từ những lời khuyên này và họ đã thành công. Do đó, tôi hi vọng
rằng những lời khuyên trong bài này sẽ giúp ích cho các bạn thành công
trong lần báo cáo sắp tới.N.V.T Nguon NVT
Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012
Cách viết bình duyệt (peer review)
Tiếp theo bài “Cách viết trả lời bình duyệt”,
kì này tôi sẽ nói về cách thức viết bình duyệt (peer review). Bất cứ
nhà khoa học nào cũng có lần đóng vai trò duyệt bài cho đồng nghiệp.
Duyệt bài của người khác là một trong những đặc quyền (và đặc lợi) của
nhà khoa học, nên nhiệm vụ này phải được nhận lãnh một cách nghiêm túc.
Hai thí nghiệm thú vị
“Bố cục và nội dung trình bày sơ sài-đơn giản không mang tính một bài báo khoa học. Các nhận định cần đi cùng minh chứng, các phát hiện phải có lập luận rõ ràng. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận chưa rõ. Cần trình bày rõ về phương pháp luận, đo lường các biến, số liệu từng biến phải có kiểm định thống kê, đo lường mối quan hệ giữa các biến.“
“Tôi có cảm giác tác giả không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu nên đã chọn đề tài quá cũ. Phương pháp có sai lầm về lý luận. Kết quả không thuyết phục.”
Hai đoạn trên đây là một trong những kết quả “thí nghiệm” mà hai nhà nghiên cứu ở VN đã thực hiện. Đó là nhận xét của hai chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội (phần trên) và y học (phần dưới) về hai bài báo đã được gửi cho 2 tập san chuyên ngành. Cả hai bài báo đều bị từ chối đăng trên tập san khoa học trong nước. Trong thực tế, cả hai bài báo đều đã được công bố trên 2 tập san quốc tế có bình duyệt (peer review) và uy tín trong chuyên ngành. Cả hai bài sau khi công bố đã thu hút 10 trích dẫn (citations) chỉ trong vòng 1 năm. Hai đồng nghiệp trên muốn tiến hành thí nghiệm để chứng minh rằng rất khó làm khoa học ở Việt Nam vì “văn hoá khoa học” ở Việt Nam có vấn đề.
Vấn đề ở đây là qui trình bình duyệt bài báo. Trong qui trình này, người bình duyệt đóng vai trò quan trọng, vì ý kiến của họ có thể quyết định “số phận” bài báo. Nhưng để có tư cách bình duyệt bài báo, chuyên gia bình duyệt phải là người có làm nghiên cứu trong thực tế VÀ có công bố quốc tế. Đó là tiêu chuẩn tối thiểu (ngoài những tiêu chuẩn khác). Ở Việt Nam chúng ta có những chuyên gia như thế nhưng có lẽ không nhiều. Chính vì thế mà có nhiều người dù chưa bao giờ làm nghiên cứu nghiêm chỉnh và cũng chưa bao giờ có công bố quốc tế một cách độc lập nhưng lại đóng vai trò quyết định “sinh mệnh” bài báo khoa học của người khác. Đó là một điều đáng tiếc.
Có lẽ vì chưa có kinh nghiệm bình duyệt, nên các chuyên gia đưa ra những nhận xét rất không đúng với chuẩn mực. Nếu bạn là tác giả bài báo, có lẽ bạn sẽ rất lúng túng với hai nhận xét trên. Vấn đề của hai nhận xét trên là quá chung chung, không có gì cụ thể để tác giả có thể căn cứ vào đó mà chỉnh sửa. Nhận xét thứ nhất tỏ ra lên lớp tác giả, và đó là một điều cấm kị trong bình duyệt. Nhận xét thứ hai thì lại mang tính cá nhân (cho rằng tác giả “không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu”), lại thêm một điều cấm kị trong bình duyệt khoa học. Nhưng thật ra đó là nhận xét sai, bởi vì tác giả là người có kinh nghiệm dồi dào trong lĩnh vực nghiên cứu và có công bố quốc tế nhưng không có tước danh GS/PGS. Kết quả thí nghiệm trên cho thấy vẫn còn một khoảng cách đáng kể về văn hoá khoa học, đặc biệt là bình duyệt bài báo, giữa tập san ở Việt Nam và quốc tế. Bài này, do đó, có mục đích chỉ dẫn cách viết một báo cáo bình duyệt sao cho chuyên nghiệp và mang tính giúp đỡ tác giả.
Bình duyệt bài báo khoa học
Bình duyệt trong khoa học là một qui trình rất quan trọng. Một bài báo không qua bình duyệt thì khó có thể nói đó là một bài báo khoa học. Bình duyệt giúp cho bài báo tốt hơn, và giúp cho ban biên tập đi đến quyết định tốt hơn. Trong vai trò ban biên tập tập san khoa học, tôi mới nhận ra một thực tế là nhiều đồng nghiệp chưa được trang bị kĩ năng duyệt bài. Thậm chí, họ không biết cách viết một bài bình duyệt cho đúng với chuẩn mực khoa học.
Bình duyệt một bài báo khoa học thật ra là có 2 phần. Phần nhận xét dành cho ban biên tập (cụ thể là tổng biên tập), và phần nhận xét dành cho tác giả. Hai phần này viết rất khác nhau, và nội dung cũng khác nhau. Phần nhận xét cho ban biên tập phải ngắn, gọn (chỉ 300 chữ là tối đa) và nói thẳng, nói thật ý kiến của mình, kể cả đề nghị từ chối hay chấp nhận bài báo. Phần nhận xét cho tác giả thì dài hơn, chi tiết hơn, và … lịch sự hơn.
Báo cáo cho ban biên tập
Có thể nói rằng phần nhận xét dành cho ban biên tập là một bản tóm lược phần nhận xét dành cho tác giả, nhưng có thêm phần đề nghị chấp nhận hay từ chối. Trong phần nhận xét dành cho tác giả thì tuyệt đối không có phần đề nghị chấp nhận hay từ chối. Đây là một vài ví dụ về nhận xét dành cho ban biên tập:
Báo cáo cho tác giả
Phần báo cáo dành cho tác giả chi tiết hơn báo cáo cho ban biên tập. Nguyên tắc số 1 của báo cáo dành cho tác giả là giúp họ nhận ra điểm mạnh và điểm yếu (kể cả khiếm khuyết) trong nghiên cứu để họ chỉnh sửa. Trong báo cáo dành cho tác giả, tuyệt đối không nói đến đề nghị cho công bố hay cho công bố (vì đó là ý kiến dành cho ban biên tập). Dĩ nhiên, tác giả không đọc được báo cáo dành cho ban biên tập. Theo thông lệ, báo cáo bình duyệt dành cho tác giả phải có 3 phần chính như sau:
Có những báo cáo chỉ 1 trang, nhưng cũng có báo cáo dài cả 10 trang. Trong thực tế, tôi và đồng nghiệp Tây Nguyên đã nhận một báo cáo mà chúng tôi trả lời tốn đến 16 trang giấy! Có những chuyên gia rất tỉ mỉ, chỉ ra những sai sót về tiếng Anh, nhưng cũng có chuyên gia chỉ quan tâm đến nội dung và phương pháp. Nhưng tất cả đều tuân thủ theo những qui ước trong việc bình luận. Những qui ước đó có thể mô tả dưới đây.
Qui ước và văn hoá bình duyệt
Thái độ và phong cách bình duyệt cũng là một yếu tố quan trọng. Điều cần ghi nhớ là người bình duyệt đang duyệt cho đồng nghiệp của mình, và theo tôi, nên tỏ ra kính trọng và “tử tế” với đồng nghiệp. Kinh nghiệm cá nhân cho thấy, người bình duyệt chuyên nghiệp cần phải có 5 đặc tính: đúng thời hạn, lịch sự, nhận xét cụ thể, nhận xét thân thiện, và không đòi hỏi quá đáng.
1. Đúng thời hạn
Đối với tác giả, từ ngày nộp bản thảo bài báo đến ngày nhận được nhận xét của các chuyên gia bình duyệt là một nỗi lo thấp thỏm. Lo vì không biết công trình của mình được tiếp nhận ra sao, và cơ hội được công bố là cao hay thấp ra sao. Trước đây (thời chưa có internet) thời gian từ ngày nộp bài báo đến khi nhận được lá thư hồi đáp đầu tiên của tập san kèm theo nhận xét của các chuyên gia bình duyệt là khoảng 2-3 tháng, nhưng ngày nay thì thời gian rút ngắn hơn nhiều, chỉ còn khoảng 2-4 tuần.
Có nhiều tập san, ban biên tập các tập san liên tục hối thúc các chuyên gia bình duyệt nộp bản nhận xét trong vòng 2 tuần. Do đó, khi đã nhận lời bình duyệt thì cần phải giữ đúng thời hạn cho phép. Nếu có trễ vài ngày thì cũng không sao, nhưng trễ cả tuần trở lên thì được xem là một sự thiếu trách nhiệm và mất lịch sự.
2. Lịch sự
Trong văn hoá khoa học, người ta thường cư xử rất lịch sự với nhau, nhất là trên văn bản. Trong hội nghị, các nhà khoa học có thể gắt gỏng với nhau trong chất vấn và trả lời, nhưng trên văn bản thì thường rất lịch sự. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong ngành y, ai đó nói đồng nghiệp “sai” được xem là thô lỗ, là một thái độ khó chấp nhận được. Cho dù đồng nghiệp có thật sự sai, người duyệt bài cũng nên tìm một cách nói khác nhẹ nhàng và “văn minh” hơn, chẳng hạn như “I consider that your method is not universally acceptable in the osteoporosis community. I strongly suggest that the authors consider an alternative approach” (Tôi nghĩ rằng phương pháp của các tác giả không được mọi người trong ngành loãng xương chấp nhận. Tôi đề nghị tác giả nên xem xét một cách tiếp cận khác). Nếu tác giả kết luận sai dữ liệu, thì một cách nói lịch sự là “The authors’ conclusion is not consistent with the data” (Kết luận của tác giả không phù hợp với dữ liệu).
Có khi một nhận xét khiếm nhã có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của một người. Chẳng hạn như nhận xét sau đây (mà tôi trích từ sách khoa học, tôi không còn ghi nguồn):
Không bao giờ viết những nhận xét về cá nhân tác giả. Chẳng hạn như không viết rằng tác giả thiếu chuyên môn, không làm trong chuyên ngành, xuất thân từ một viện/trường không có tiếng, v.v. Viết như thế là dễ bị ban biên tập xem là ngụy biện và tấn công cá nhân, bởi vì vấn đề là nội dung bài báo chứ không phải cá nhân tác giả. Vả lại, người duyệt bài cũng không biết hết bằng cấp hay chuyên môn của các tác giả, nên viết bình duyệt như thế rất … nguy hiểm. Trong thực tế, những chuyên gia có kinh nghiệm và chững chạc, không ai viết về cá nhân cả, nhưng trong thực tế vẫn có vài người mới tham gia nghiên cứu khoa học nên có thái độ ấu trĩ. Không bao giờ tỏ thái độ ấu trĩ trong bình duyệt công trình của đồng nghiệp!
3. Nhận xét cụ thể
Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những bình luận và nhận xét có thể nói là vô bổ. Tiêu biểu cho những nhận xét này là there are too many errors in the manuscript that need attention (có quá nhiều sai sót trong bản thảo cần phải chú ý), a number of English expressions in the manuscript are odd (một số câu chữ tiếng Anh không chuẩn), v.v. Những nhận xét như thế cho thấy người duyệt bài hoặc là không đọc kĩ, hoặc là chỉ nói bâng quơ, gieo một sự nghi ngờ cho ban biên tập. Những nhận xét đó chẳng những được xem là thiếu thân thiện, mà còn thiếu tính chuyên nghiệp. Nếu bản thảo có nhiều lỗi hay sai sót mà người duyệt bài không có thì giờ chỉ ra hết, thì ít ra cũng phải chỉ ra một số sai sót tiêu biểu để tác giả chỉnh sửa hay trả lời.
Một vài ví dụ như sau có thể minh hoạ cho sự khác biệt giữa nhận xét chung và nhận xét cụ thể:
Điều này có vẻ hơi bất bình thường, nhưng tôi đã từng thấy nhiều chuyên gia bình duyệt đưa ra những bình luận rất khắt khe mà không có mục đích nào cụ thể cả. Có người dành cả nửa trang giấy để bắt bẻ về chấm câu, văn phạm, ngữ vựng tiếng Anh, mà ngay cả những nhận xét đó cũng không hợp lí. Có lần tôi bắt gặp một nhận xét bài báo của các đồng nghiệp Việt Nam rằng dùng chữ asymptomatic là không chuẩn, nhưng chính người nhận xét dùng chữ … sai. Thêm vào đó là những nhận xét như “This is bad …” hay “This study is flawed …” cũng không giúp ích gì cho tác giả và ban biên tập.
Sau đây là vài nhận xét mang tính xây dựng:
Đôi khi các chuyên gia bình duyệt muốn các tác giả phải làm và viết theo ý của mình. Họ yêu cầu tác giả phải làm thí nghiệm này, thêm phân tích kia, viết như thế nọ. Nói cách khác, họ muốn tác giả đáp ứng ý muốn của họ. Trong trường hợp này, ban biên tập sẽ không “mặn mà” với kiểu bình duyệt đó. Có lần chúng tôi (tôi và đồng nghiệp Việt Nam) nộp bản thảo bài báo về gãy xương cột sống, nhưng một chuyên gia bình duyệt đòi hỏi chúng tôi phải trình bày cả dữ liệu về mật độ xương! Nếu làm theo yêu cầu này, bài báo sẽ dài gấp 2 lần, và cái thông điệp sẽ bị loãng. Vì thế chúng tôi phải lịch sự từ chối không làm theo yêu cầu đó, và ban biên tập chấp nhận. Vấn đề là bài báo họ đang duyệt, và ban biên tập yêu cầu họ duyệt bài báo, chứ không yêu cầu họ lên lớp hay hướng dẫn tác giả. Do đó, không nên đòi hỏi tác giả một cách quá đáng. Bảng dưới đây trình bày vài ví dụ để so sánh:
Bình duyệt kín là một qui trình bảo mật khá nghiêm ngặt. Theo qui
định của tập san thì tất cả những văn bản và bản thảo của tác giả mà
người duyệt bài có trong tay khi bình duyệt phải huỷ bỏ ngay sau khi gửi
bài bình duyệt. Trong thực tế, có những “con cừu đen” không làm theo
qui định này, mà giữ lại để gửi cho đồng nghiệp khác, và đó là một vi
phạm khoa học nghiêm trọng. Ngoài ra, còn có tình trạng kì thị,
mà có khi tác giả không biết, và đó cũng là bài học cho những người
“xem mặt mà bắt hình dong”. Nói chung, theo kinh nghiệm cá nhân tôi, để
làm một chuyên gia bình duyệt tốt đòi hỏi một bản lĩnh văn hoá khoa học
tốt.
Trong văn hoá khoa học, không có tình trạng kì thị, đố kị đồng nghiệp, và nhất là phải đối xử tử tế với nhau. Nói thì dễ nhưng thực hành có khi không dễ (1). Khoa học là một môi trường bình đẳng và dependent origination, hiểu theo nghĩa chúng ta bình duyệt lẫn nhau trong chuyên ngành, và sự nghiệp của chúng ta phụ thuộc lẫn nhau. Để tạm kết thúc bài này, tôi chỉ nhắc lại một ý trước đây rằng trong cuộc sống đa chiều có những mối liên hệ chằng chịt và phức tạp, không có cá nhân nào làm nên tất cả. Mỗi chúng ta đều phải phụ thuộc vào người khác để tồn tại. Trong khoa học, mỗi nhà khoa học phải đứng trên vai của người đi trước hay phụ thuộc vào đồng nghiệp để có được sự nghiệp ngày hôm nay. Thật là ngây thơ nếu tự huyễn hoặc mình là quan trọng nhất chỉ vì đóng vai trò duyệt bài của người khác. Ý kiến của chuyên gia bình duyệt có thể ảnh hưởng đến tương lai của một đồng nghiệp khác, và xin nhắc lại là cần phải nhận lãnh trách nhiệm rất nghiêm chỉnh.
Bình duyệt bài cho đồng nghiệp là một đặc quyền và đặc lợi. Đặc quyền là vì người duyệt bài biết được đồng nghiệp mình làm gì và làm ra sao. Đặc lợi là vì làm chuyên gia bình duyệt được xem là một thành tích khoa học, được phép ghi trong lí lịch là “expert reviewer) cho tập san. Được ban biên tập của tập san mời bình duyệt là một vinh dự, một cách “công nhận” chuyên môn, và do đó, nên cần phải tỏ ra nghiêm chỉnh trong công việc duyệt bài.
N.V.T
(1) Nhớ lúc còn trẻ, và lúc đó cũng đã có “tên tuổi” nên tôi được khá nhiều tập san mời bình duyệt. Lúc đó có lẽ vì tôi quá lí tưởng giống như perfectionist nên đòi hỏi các tác giả phải làm nhiều việc, và có khi khắt khe (nhưng chưa bao giờ đố kị hay xem thường họ). Có lần sếp tôi đọc được bản bình duyệt, ông kêu vào phòng và nhắc nhở rằng phải tử tế với đồng nghiệp, rằng trên thế giới này không bao giờ có nghiên cứu nào hoàn hảo cả, nên phải thông cảm với tác giả. Ông hỏi một câu rằng “Nếu mai kia mốt nọ, mày gặp tác giả đó trong hội nghị, mày phê bình như thế, mày có thấy ngượng không?” Câu này làm tôi nhớ mãi và thay đổi hoàn toàn cách tôi viết bình duyệt sau này.
Nguồn nguyenvantuan.net
Hai thí nghiệm thú vị
“Bố cục và nội dung trình bày sơ sài-đơn giản không mang tính một bài báo khoa học. Các nhận định cần đi cùng minh chứng, các phát hiện phải có lập luận rõ ràng. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận chưa rõ. Cần trình bày rõ về phương pháp luận, đo lường các biến, số liệu từng biến phải có kiểm định thống kê, đo lường mối quan hệ giữa các biến.“
“Tôi có cảm giác tác giả không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu nên đã chọn đề tài quá cũ. Phương pháp có sai lầm về lý luận. Kết quả không thuyết phục.”
Hai đoạn trên đây là một trong những kết quả “thí nghiệm” mà hai nhà nghiên cứu ở VN đã thực hiện. Đó là nhận xét của hai chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội (phần trên) và y học (phần dưới) về hai bài báo đã được gửi cho 2 tập san chuyên ngành. Cả hai bài báo đều bị từ chối đăng trên tập san khoa học trong nước. Trong thực tế, cả hai bài báo đều đã được công bố trên 2 tập san quốc tế có bình duyệt (peer review) và uy tín trong chuyên ngành. Cả hai bài sau khi công bố đã thu hút 10 trích dẫn (citations) chỉ trong vòng 1 năm. Hai đồng nghiệp trên muốn tiến hành thí nghiệm để chứng minh rằng rất khó làm khoa học ở Việt Nam vì “văn hoá khoa học” ở Việt Nam có vấn đề.
Vấn đề ở đây là qui trình bình duyệt bài báo. Trong qui trình này, người bình duyệt đóng vai trò quan trọng, vì ý kiến của họ có thể quyết định “số phận” bài báo. Nhưng để có tư cách bình duyệt bài báo, chuyên gia bình duyệt phải là người có làm nghiên cứu trong thực tế VÀ có công bố quốc tế. Đó là tiêu chuẩn tối thiểu (ngoài những tiêu chuẩn khác). Ở Việt Nam chúng ta có những chuyên gia như thế nhưng có lẽ không nhiều. Chính vì thế mà có nhiều người dù chưa bao giờ làm nghiên cứu nghiêm chỉnh và cũng chưa bao giờ có công bố quốc tế một cách độc lập nhưng lại đóng vai trò quyết định “sinh mệnh” bài báo khoa học của người khác. Đó là một điều đáng tiếc.
Có lẽ vì chưa có kinh nghiệm bình duyệt, nên các chuyên gia đưa ra những nhận xét rất không đúng với chuẩn mực. Nếu bạn là tác giả bài báo, có lẽ bạn sẽ rất lúng túng với hai nhận xét trên. Vấn đề của hai nhận xét trên là quá chung chung, không có gì cụ thể để tác giả có thể căn cứ vào đó mà chỉnh sửa. Nhận xét thứ nhất tỏ ra lên lớp tác giả, và đó là một điều cấm kị trong bình duyệt. Nhận xét thứ hai thì lại mang tính cá nhân (cho rằng tác giả “không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu”), lại thêm một điều cấm kị trong bình duyệt khoa học. Nhưng thật ra đó là nhận xét sai, bởi vì tác giả là người có kinh nghiệm dồi dào trong lĩnh vực nghiên cứu và có công bố quốc tế nhưng không có tước danh GS/PGS. Kết quả thí nghiệm trên cho thấy vẫn còn một khoảng cách đáng kể về văn hoá khoa học, đặc biệt là bình duyệt bài báo, giữa tập san ở Việt Nam và quốc tế. Bài này, do đó, có mục đích chỉ dẫn cách viết một báo cáo bình duyệt sao cho chuyên nghiệp và mang tính giúp đỡ tác giả.
Bình duyệt bài báo khoa học
Bình duyệt trong khoa học là một qui trình rất quan trọng. Một bài báo không qua bình duyệt thì khó có thể nói đó là một bài báo khoa học. Bình duyệt giúp cho bài báo tốt hơn, và giúp cho ban biên tập đi đến quyết định tốt hơn. Trong vai trò ban biên tập tập san khoa học, tôi mới nhận ra một thực tế là nhiều đồng nghiệp chưa được trang bị kĩ năng duyệt bài. Thậm chí, họ không biết cách viết một bài bình duyệt cho đúng với chuẩn mực khoa học.
Bình duyệt một bài báo khoa học thật ra là có 2 phần. Phần nhận xét dành cho ban biên tập (cụ thể là tổng biên tập), và phần nhận xét dành cho tác giả. Hai phần này viết rất khác nhau, và nội dung cũng khác nhau. Phần nhận xét cho ban biên tập phải ngắn, gọn (chỉ 300 chữ là tối đa) và nói thẳng, nói thật ý kiến của mình, kể cả đề nghị từ chối hay chấp nhận bài báo. Phần nhận xét cho tác giả thì dài hơn, chi tiết hơn, và … lịch sự hơn.
Báo cáo cho ban biên tập
Có thể nói rằng phần nhận xét dành cho ban biên tập là một bản tóm lược phần nhận xét dành cho tác giả, nhưng có thêm phần đề nghị chấp nhận hay từ chối. Trong phần nhận xét dành cho tác giả thì tuyệt đối không có phần đề nghị chấp nhận hay từ chối. Đây là một vài ví dụ về nhận xét dành cho ban biên tập:
Vài ví dụ về bình luận riêng cho ban biên tập
|
Báo cáo cho tác giả
Phần báo cáo dành cho tác giả chi tiết hơn báo cáo cho ban biên tập. Nguyên tắc số 1 của báo cáo dành cho tác giả là giúp họ nhận ra điểm mạnh và điểm yếu (kể cả khiếm khuyết) trong nghiên cứu để họ chỉnh sửa. Trong báo cáo dành cho tác giả, tuyệt đối không nói đến đề nghị cho công bố hay cho công bố (vì đó là ý kiến dành cho ban biên tập). Dĩ nhiên, tác giả không đọc được báo cáo dành cho ban biên tập. Theo thông lệ, báo cáo bình duyệt dành cho tác giả phải có 3 phần chính như sau:
- Tóm lược nội dung chính của bài báo, và đưa ra một số bình luận chung (general comments). Phần này chỉ một đoạn văn ngắn khoảng 100 từ;
- Nhận xét cụ thể (specific comments). Trong phần này, người duyệt bài chia ra thành 2 nhóm: những nhận xét mang tính quan trọng (major comments), và những nhận xét mang tính nhẹ (minor comments);
- Kết luận.
- Công trình có đóng góp gì vào tri thức chuyên ngành;
- Tựa đề bài báo có phản ảnh đúng nội dung của bài báo;
- Bản tóm tắt ngắn gọn mà phản ảnh được những nét chính của nghiên cứu;
- Duyệt qua y văn hay những nghiên cứu trước một cách đầy đủ;
- Mục tiêu phát biểu có rõ ràng và có giả thuyết kèm theo hay chỉ là nghiên cứu mô tả ;
- Nghiên cứu có đáp ứng tiêu chuẩn về đạo đức khoa học;
- Mô tả phương pháp nghiên cứu một cách đầy đủ sao cho đồng nghiệp có thể lặp lại;
- Phần kết quả trình bày có bám sát theo mục tiêu nghiên cứu; dữ liệu trình bày có rõ ràng; và
- Phần bàn luận có chỉ ra những yếu kém và điểm mạnh của nghiên cứu, giải thích cơ chế và ý nghĩa của phát hiện.
|
General comments The authors conducted a genetic association study on 281 women aged between 45 and 65 of Chinese background to test the hypothesis that polymorphisms within the XX gene is associated with BMD. They found a significant association between a G894T gene polymorphism and serum testosterone and osteocalin, but not with. The study’s hypothesis and concept are interesting, but I am afraid that the finding was compromised by several methodological issues. Here I would like to offer some comments as follows: Specific comments 1. The authors should provide much more convincing case why the study was necessary. At present the rationale for this study was based on a rather flimsy and unconvincing evidence. I accept that the hypothesis is good, but I feel that the rationale for the study design has not been spelt out convincingly. 2. The abstract is too long. It should be limited to 250-300 words. Please check the Journal’s guidelines. 3. The calculation of sample size was based on a grossly optimistic assumption (eg allowable error of 20% for a prevalence of 40%). It is not clear what does “population morbidity rate of osteoporosis” mean (page 7). 4. According to the WHO recommendation, femoral neck BMD, not lumbar spine BMD, is used for making a diagnosis of osteoporosis. Therefore, the diagnostic statement (page 8) is incorrect. I am concerned that the data have to be re-analyzed because the authors have used an incorrect criterion. 5. The statistical method was incorrect. This was not designed as a case control study, but rather a simple cross-sectional study. Therefore, the Chi square test of allelic frequency between “patients” and “controls” is inappropriate. Anyway, the authors should consult an experienced biostatistician or genetic statistician to re-analyze the data. Some minor comments: 6. The authors misunderstand the difference between incidence and prevalence (page 5). 7. Do the authors mean “Qiagen” or “Qegen” (page 9)? 8. There are several linguistic errors, presumably due to the fact that none of the authors is a native English speaker. It is recommended that the authors seek editorial assistance from a native English colleague to check the manuscript. 9. Several references are incorrect or inappropriate. For instance ref #17 (page 7) is not appropriate. Please check all references and make sure that they are appropriately cited. |
Có những báo cáo chỉ 1 trang, nhưng cũng có báo cáo dài cả 10 trang. Trong thực tế, tôi và đồng nghiệp Tây Nguyên đã nhận một báo cáo mà chúng tôi trả lời tốn đến 16 trang giấy! Có những chuyên gia rất tỉ mỉ, chỉ ra những sai sót về tiếng Anh, nhưng cũng có chuyên gia chỉ quan tâm đến nội dung và phương pháp. Nhưng tất cả đều tuân thủ theo những qui ước trong việc bình luận. Những qui ước đó có thể mô tả dưới đây.
Qui ước và văn hoá bình duyệt
Thái độ và phong cách bình duyệt cũng là một yếu tố quan trọng. Điều cần ghi nhớ là người bình duyệt đang duyệt cho đồng nghiệp của mình, và theo tôi, nên tỏ ra kính trọng và “tử tế” với đồng nghiệp. Kinh nghiệm cá nhân cho thấy, người bình duyệt chuyên nghiệp cần phải có 5 đặc tính: đúng thời hạn, lịch sự, nhận xét cụ thể, nhận xét thân thiện, và không đòi hỏi quá đáng.
1. Đúng thời hạn
Đối với tác giả, từ ngày nộp bản thảo bài báo đến ngày nhận được nhận xét của các chuyên gia bình duyệt là một nỗi lo thấp thỏm. Lo vì không biết công trình của mình được tiếp nhận ra sao, và cơ hội được công bố là cao hay thấp ra sao. Trước đây (thời chưa có internet) thời gian từ ngày nộp bài báo đến khi nhận được lá thư hồi đáp đầu tiên của tập san kèm theo nhận xét của các chuyên gia bình duyệt là khoảng 2-3 tháng, nhưng ngày nay thì thời gian rút ngắn hơn nhiều, chỉ còn khoảng 2-4 tuần.
Có nhiều tập san, ban biên tập các tập san liên tục hối thúc các chuyên gia bình duyệt nộp bản nhận xét trong vòng 2 tuần. Do đó, khi đã nhận lời bình duyệt thì cần phải giữ đúng thời hạn cho phép. Nếu có trễ vài ngày thì cũng không sao, nhưng trễ cả tuần trở lên thì được xem là một sự thiếu trách nhiệm và mất lịch sự.
2. Lịch sự
Trong văn hoá khoa học, người ta thường cư xử rất lịch sự với nhau, nhất là trên văn bản. Trong hội nghị, các nhà khoa học có thể gắt gỏng với nhau trong chất vấn và trả lời, nhưng trên văn bản thì thường rất lịch sự. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong ngành y, ai đó nói đồng nghiệp “sai” được xem là thô lỗ, là một thái độ khó chấp nhận được. Cho dù đồng nghiệp có thật sự sai, người duyệt bài cũng nên tìm một cách nói khác nhẹ nhàng và “văn minh” hơn, chẳng hạn như “I consider that your method is not universally acceptable in the osteoporosis community. I strongly suggest that the authors consider an alternative approach” (Tôi nghĩ rằng phương pháp của các tác giả không được mọi người trong ngành loãng xương chấp nhận. Tôi đề nghị tác giả nên xem xét một cách tiếp cận khác). Nếu tác giả kết luận sai dữ liệu, thì một cách nói lịch sự là “The authors’ conclusion is not consistent with the data” (Kết luận của tác giả không phù hợp với dữ liệu).
Có khi một nhận xét khiếm nhã có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của một người. Chẳng hạn như nhận xét sau đây (mà tôi trích từ sách khoa học, tôi không còn ghi nguồn):
“The
claims made by the author are neither novel nor convincing. The study is
of little or no interest to the community, and is probably inaccessible
to anyone outside the author’s presumably very small research group.
Moreover, I believe there are no further experiments that would
strengthen the paper.” (Những phát biểu của tác giả
không có gì mới và cũng chẳng thuyết phục. Công trình nghiên cứu thuộc
vào loại ít người trong cộng đồng quan tân, và có lẽ chẳng ai ngoại trừ
nhóm của tác giả tiếp cận được. Hơn thế nữa, tôi tin rằng không cần phải
làm thêm thí nghiệm để nâng cao bài báo).
Có thể nói đó là một nhận xét quá
tiêu cực. Có thể nội dung bài báo không tốt, nhưng cũng nên tìm một cách
khác viết lịch sự hơn và tích cực hơn. Viết như thế là huỷ diệt một
tiềm năng. Đối với những nhận xét tích cực, nên bắt đầu bằng một giọng
văn tích cực, rồi sau đó mới chất vấn:
|
The
author should be commended for employing data on x in order to analyze
y. Although these data present a rich source of information for studying
y, they remain largely underutilized, so it is good to see them being
used here. (Tác giả nên được
tuyên dương vì đã sử dụng dữ liệu X để phân tích Y. Mặc dù những dữ liệu
này cung cấp một nguồn thông tin dồi dào để nghiên cứu Y, nhưng vẫn còn
ít được sử dụng. Do đó, đây là một điểm hay của tác giả).
Unfortunately
however, the paper, as it is, fails to make an important contribution
to the literature, for two reasons. First, the analysis suffers from a
number of methodological short-comings, which are summarized in the
“main comments” section below. Second, most of the empirical results are
quite obvious. (Tuy nhiên, bài
báo như hiện nay thất bại trong việc đóng góp quan trọng cho y văn, vì
hai lí do: thứ nhất, phần phân tích có vài khiếm khuyết về phương pháp,
mà tôi đã tóm lược trong phần “bình luận chính” dưới đây. Thứ hai, phần
lớn những kết quả là khá hiển nhiên).
Having
said that, there is one result that seems non-obvious and interesting,
namely that ... In fact, the paper could be improved significantly if
the authors could answer the following questions ... If the answer is
“yes” to these questions, then these aspects could be further explored.
For example, it would be interesting to identify
... (Dù vậy, có một kết quả hình như không hiển nhiên và thú vị, cụ thể
là … Thật ra, bài báo có thể cải tiến một cách đáng kể nếu tác giả có
thể trả lời những câu hỏi sau đây … Nếu câu trả lời là “có” cho những
câu hỏi này thì những khía cạnh này cần được khai thác thêm).
|
Không bao giờ viết những nhận xét về cá nhân tác giả. Chẳng hạn như không viết rằng tác giả thiếu chuyên môn, không làm trong chuyên ngành, xuất thân từ một viện/trường không có tiếng, v.v. Viết như thế là dễ bị ban biên tập xem là ngụy biện và tấn công cá nhân, bởi vì vấn đề là nội dung bài báo chứ không phải cá nhân tác giả. Vả lại, người duyệt bài cũng không biết hết bằng cấp hay chuyên môn của các tác giả, nên viết bình duyệt như thế rất … nguy hiểm. Trong thực tế, những chuyên gia có kinh nghiệm và chững chạc, không ai viết về cá nhân cả, nhưng trong thực tế vẫn có vài người mới tham gia nghiên cứu khoa học nên có thái độ ấu trĩ. Không bao giờ tỏ thái độ ấu trĩ trong bình duyệt công trình của đồng nghiệp!
3. Nhận xét cụ thể
Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những bình luận và nhận xét có thể nói là vô bổ. Tiêu biểu cho những nhận xét này là there are too many errors in the manuscript that need attention (có quá nhiều sai sót trong bản thảo cần phải chú ý), a number of English expressions in the manuscript are odd (một số câu chữ tiếng Anh không chuẩn), v.v. Những nhận xét như thế cho thấy người duyệt bài hoặc là không đọc kĩ, hoặc là chỉ nói bâng quơ, gieo một sự nghi ngờ cho ban biên tập. Những nhận xét đó chẳng những được xem là thiếu thân thiện, mà còn thiếu tính chuyên nghiệp. Nếu bản thảo có nhiều lỗi hay sai sót mà người duyệt bài không có thì giờ chỉ ra hết, thì ít ra cũng phải chỉ ra một số sai sót tiêu biểu để tác giả chỉnh sửa hay trả lời.
Một vài ví dụ như sau có thể minh hoạ cho sự khác biệt giữa nhận xét chung và nhận xét cụ thể:
- Lines 40–42: this sentence seems to be in contrast with the Conclusion section. Please clarify. Nhận xét như thế là quá chung chung, nên sửa lại và chỉ ra cụ thể số dòng: In the Abstract (lines 40–42) the authors say that x and y were effective, but in the Conclusions it seems that only x is effective.
- Line 51: . . . XXX represents the major repository of integration and accumulation of. . . This sentence is not clear. Nên sửa: I am not sure how a repository can contain “integration.” What exactly do the authors mean by “integration” in this context?
Điều này có vẻ hơi bất bình thường, nhưng tôi đã từng thấy nhiều chuyên gia bình duyệt đưa ra những bình luận rất khắt khe mà không có mục đích nào cụ thể cả. Có người dành cả nửa trang giấy để bắt bẻ về chấm câu, văn phạm, ngữ vựng tiếng Anh, mà ngay cả những nhận xét đó cũng không hợp lí. Có lần tôi bắt gặp một nhận xét bài báo của các đồng nghiệp Việt Nam rằng dùng chữ asymptomatic là không chuẩn, nhưng chính người nhận xét dùng chữ … sai. Thêm vào đó là những nhận xét như “This is bad …” hay “This study is flawed …” cũng không giúp ích gì cho tác giả và ban biên tập.
Sau đây là vài nhận xét mang tính xây dựng:
- the aim of the work is not clear—I am not completely sure whether this is simply a validation of a widely-used bioassay or a field study. If it is indeed a validation, then I am not sure of its utility, given that many cases have already been reported in the literature (as cited by the authors themselves). If it is a field study, then it might be useful to add more parameters.
- the parameters that the authors measured are too similar to each other and there are too few of them (only four). I would recommend using at least six parameters.
- The sediments that the authors chose are not very revealing in terms of metal pollution. What about using sediments from .... ?
Tiếng Anh có khi là một vấn đề nan
giải. Trong vài năm gần đây, tôi duyệt bài từ các tác giả Á châu (nhất
là China) rất nhiều. Ngoài một thiểu số viết tiếng Anh tốt, phần đa số
là quá kém. Nhưng điều đó không có nghĩa là khoa học của họ kém. Kinh
nghiệm tôi thì tuỳ tình huống mà viết bình luận.
- Nếu quả thật bài báo có quá nhiều sai sót và người bình duyệt chắc chắn về điều này thì cũng có cách viết sao cho hợp lí và xây dựng: This paper needs a thorough revision by a native English proofreader (Bài báo cần chỉnh sửa toàn diện bởi một người bản xứ nói tiếng Anh).
- Nếu có những sai sót về đánh vần: There are a few typos that need correcting. I suggest the authors turn on the spell check in Word (Có nhiều sai sót trong việc đánh vần cần phải chỉnh sửa, tôi đề nghị tác giả nên bật nút kiểm tra đánh vần “on” trong Word).
- Nếu có những sai sót về văn phạm: I noticed the following grammatical mistakes [đưa ra danh sách] but otherwise the English seems fine (Tôi chú ý thấy có những sai sót về văn phạm [….] nhưng ngoài những lỗi đó ra thì tiếng Anh có vẻ tốt).
- Nếu không chắc chắn có sai sót, và không chắc chắn cách phát hiện: I don’t feel qualified to judge the English, as it is not my mother tongue; however, I do feel that in some parts the English is not up to standard and is sometimes rather ambiguous. (Tôi không cảm thấy đủ tư cách để đánh giá tiếng Anh, vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi; tuy nhiên, tôi cảm thấy rằng một số câu chữ tiếng Anh chưa đạt chuẩn và có khi mù mờ).
- Nếu tiếng Anh của mình tốt, nhưng vẫn không chắc chắn bài báo có sai tiếng Anh hay không: The English seems fine to me, but I am not a native speaker (Tiếng Anh có vẻ tốt đối với tôi, nhưng tôi không phải là người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ).
Đôi khi các chuyên gia bình duyệt muốn các tác giả phải làm và viết theo ý của mình. Họ yêu cầu tác giả phải làm thí nghiệm này, thêm phân tích kia, viết như thế nọ. Nói cách khác, họ muốn tác giả đáp ứng ý muốn của họ. Trong trường hợp này, ban biên tập sẽ không “mặn mà” với kiểu bình duyệt đó. Có lần chúng tôi (tôi và đồng nghiệp Việt Nam) nộp bản thảo bài báo về gãy xương cột sống, nhưng một chuyên gia bình duyệt đòi hỏi chúng tôi phải trình bày cả dữ liệu về mật độ xương! Nếu làm theo yêu cầu này, bài báo sẽ dài gấp 2 lần, và cái thông điệp sẽ bị loãng. Vì thế chúng tôi phải lịch sự từ chối không làm theo yêu cầu đó, và ban biên tập chấp nhận. Vấn đề là bài báo họ đang duyệt, và ban biên tập yêu cầu họ duyệt bài báo, chứ không yêu cầu họ lên lớp hay hướng dẫn tác giả. Do đó, không nên đòi hỏi tác giả một cách quá đáng. Bảng dưới đây trình bày vài ví dụ để so sánh:
|
Thay vì viết |
Thì nên viết |
|
It is absolutely wrong to state that x is the cause of y |
I feel that / As far as I can see, / In my opinion / I believe / Based on my knowledge of the topic I would say that the assertion that x is the cause of y may be open to discussion.
|
|
The presentation of results must be totally modified.
|
I would
suggest that the results be presented in a different way; for example, a
table could be used rather than a figure. This would make the results
stand out better and make it easier for the reader to understand the
importance of them.
|
|
The description of methods is incomplete and does not permit a correct evaluation of the trials.
|
The
description of the methods needs more details. For example, what
criteria were used to select the three byproducts? Why was the field
test conducted with KS only? Which parameters did the Authors evaluate
in the field test and how?
|
|
The
methodologic part refers to rather old methods; how can they not be
aware of the new procedures existing in the analytical literature?
|
The
authors may not be aware that there are actually some new procedures
existing in the analytical literature. They might try reading ....
|
Trong văn hoá khoa học, không có tình trạng kì thị, đố kị đồng nghiệp, và nhất là phải đối xử tử tế với nhau. Nói thì dễ nhưng thực hành có khi không dễ (1). Khoa học là một môi trường bình đẳng và dependent origination, hiểu theo nghĩa chúng ta bình duyệt lẫn nhau trong chuyên ngành, và sự nghiệp của chúng ta phụ thuộc lẫn nhau. Để tạm kết thúc bài này, tôi chỉ nhắc lại một ý trước đây rằng trong cuộc sống đa chiều có những mối liên hệ chằng chịt và phức tạp, không có cá nhân nào làm nên tất cả. Mỗi chúng ta đều phải phụ thuộc vào người khác để tồn tại. Trong khoa học, mỗi nhà khoa học phải đứng trên vai của người đi trước hay phụ thuộc vào đồng nghiệp để có được sự nghiệp ngày hôm nay. Thật là ngây thơ nếu tự huyễn hoặc mình là quan trọng nhất chỉ vì đóng vai trò duyệt bài của người khác. Ý kiến của chuyên gia bình duyệt có thể ảnh hưởng đến tương lai của một đồng nghiệp khác, và xin nhắc lại là cần phải nhận lãnh trách nhiệm rất nghiêm chỉnh.
Bình duyệt bài cho đồng nghiệp là một đặc quyền và đặc lợi. Đặc quyền là vì người duyệt bài biết được đồng nghiệp mình làm gì và làm ra sao. Đặc lợi là vì làm chuyên gia bình duyệt được xem là một thành tích khoa học, được phép ghi trong lí lịch là “expert reviewer) cho tập san. Được ban biên tập của tập san mời bình duyệt là một vinh dự, một cách “công nhận” chuyên môn, và do đó, nên cần phải tỏ ra nghiêm chỉnh trong công việc duyệt bài.
N.V.T
(1) Nhớ lúc còn trẻ, và lúc đó cũng đã có “tên tuổi” nên tôi được khá nhiều tập san mời bình duyệt. Lúc đó có lẽ vì tôi quá lí tưởng giống như perfectionist nên đòi hỏi các tác giả phải làm nhiều việc, và có khi khắt khe (nhưng chưa bao giờ đố kị hay xem thường họ). Có lần sếp tôi đọc được bản bình duyệt, ông kêu vào phòng và nhắc nhở rằng phải tử tế với đồng nghiệp, rằng trên thế giới này không bao giờ có nghiên cứu nào hoàn hảo cả, nên phải thông cảm với tác giả. Ông hỏi một câu rằng “Nếu mai kia mốt nọ, mày gặp tác giả đó trong hội nghị, mày phê bình như thế, mày có thấy ngượng không?” Câu này làm tôi nhớ mãi và thay đổi hoàn toàn cách tôi viết bình duyệt sau này.
Nguồn nguyenvantuan.net
Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012
Cách trả lời bình duyệt (response to peer review)
Bình duyệt của đồng nghiệp (peer review) là bước thứ hai trong qui trình xuất bản bài báo khoa học. Bước thứ nhất là nộp bài, và nếu bài báo có triển vọng thì sẽ được ban biên tập gửi cho 2-3 chuyên gia trong ngành bình duyệt. Bước thứ hai, sau khi nhận được bình duyệt, tác giả (hay nhóm tác giả) có nhiệm vụ phải trả lời những bình luận, những phê bình, hay đề nghị của các chuyên gia. Nếu tác giả trả lời đạt, thì ban biên tập có thể quyết định chấp nhận bài báo; nếu trả lời chưa đạt thì bài báo có thể gửi trả lại (tức là bác bỏ). Do đó, bước này (trả lời bình duyệt) rất quan trọng, không thể xem thường được.
Đối với những người mới bước vào “nghiệp” nghiên cứu sinh, việc bị các chuyên gia phê bình là một kinh nghiệm không mấy tốt. Có lần một nghiên cứu sinh của tôi nhận được bình duyệt từ 3 chuyên gia, và đọc xong cô ấy … khóc ròng. Cô ấy cầm bản báo cáo của 3 chuyên gia cho tôi xem, và hỏi phải làm gì bây giờ. Trước nước mắt thú thật tôi cũng lúng túng chưa biết phản ứng ra sao, và chỉ khuyên bình tĩnh, cứ bỏ đó một bên, và tìm cái gì đó để khuây khoả đôi ba ngày, rồi sẽ ngồi xuống và tìm cách đối phó. Nhưng khi đọc xong các bình luận và phê bình, tôi thấy ngoài vài chỗ phê phán một cách thiếu công bằng, phần còn lại cũng không quá khắc khe. Bài học đối với những người mới vào nghiên cứu là lúc nào cũng bình thản trước những phê phán và đối phó một cách đúng đắn, không nên để cho cảm tính chi phối.
Peer review (bình duyệt bởi đồng nghiệp)
là một qui trình không thể thiếu trong khoa học. Từ khi bản thảo được
gửi đi đến khi được chấp nhận là một hành trình gian nan. Bức tranh hoạt
hoạ này cho thấy tác giả (người mặc áo trắng đang cầm bản thảo), phải
qua nhiều chuyên gia bình duyệt và những người này có nhiệm vụ giống như
"đao phủ", chỉ khi nào tác giả qua được tất cả đao phủ này và người
mặc áo thụng đen cầm cái lưỡi hái to (tổng biên tập) thì bài báo mới
được chấp nhận, và ... ăn mừng.
Một điểm cần ghi nhớ khi trả lời các chuyên gia bình duyệt là sự bất
bình đẳng giữa tác giả và họ. Theo qui chế của bình duyệt kín, tác giả
không biết danh tánh các chuyên gia. Chỉ có ban biên tập biết họ là ai.
Thật ra, tất cả tác giả biết là họ là người cùng chuyên ngành, rất có
thể là thành viên của ban biên tập. Nhưng họ biết tác giả là ai (qua tên
họ, nơi làm việc, v.v.). Điều này dẫn đến một sự bất lợi là họ có thể
tỏ ra mất lịch sự (thậm chí vô lễ) với tác giả, nhưng tác giả thì không
thể hành xử mất lịch sự với họ. Trong điều kiện như thế, có một số qui
tắt trả lời mà tác giả cần phải nằm lòng. Những qui tắc đó là trả lời
một cách đầy đủ, lịch sự, và có chứng cứ.Qui tắc 1: trả lời một cách đầy đủ. “Đầy đủ” ở đây phải hiểu theo nghĩa trả lời tất cả những câu hỏi (bất kể câu hỏi vô lí như thế nào), và sao chép nguyên văn những gì các chuyên gia viết (cho dù họ viết sai chính tả). Sao chép lại nguyên văn bình luận của người duyệt bài cũng là cách bắt buộc tác giả phải “lắng nghe” những gì người duyệt bài nói, và giúp tác giả phân định bao nhiêu điểm trong câu hỏi.
| “1. The rationale for stratifying the analysis by sex is not
presented, and is not clear to me. Was this pre-specified? At the least,
the results of the analysis for all participants combined should be
presented as the primary analysis” Response: The prevalence of TB is higher in men than in women. Our previous study suggested that the prevalence of vitamin D insufficiency was higher in women than in men. Therefore, we pre-specified the analysis by sex. We do not think a combined analysis is meaningful here, because it could mask the sex-specific association. “2. The authors state that association that they report cannot be interpreted as causal, and yet conclude the paper by suggesting that supplementation may have a role in prevention / treatment – this is inconsistent.” Response: We have re-written the conclusion to be more consistent with the data: “Considering findings from previous work, and given the current epidemics of vitamin D insufficiency in the world and in Vietnam, the present finding warrants further studies to determine whether vitamin D supplementation can have a role in the prevention and treatment of tuberculosis in developing countries.” |
Trong ví dụ trên, những câu trong ngoặc kép là sao chép nguyên văn của người duyệt bài, và "Response" là phần trả lời của tác giả. Thỉnh thoảng, tác giả cũng nên tỏ ra lịch sự bằng một câu mởi đầu, như "We thank the reviewer for taking time to consider our work. Here, we would like to address the reviewer's concerns as follows:" (Chúng tôi cám ơn người duyệt bài đã bỏ thời gian xem xét bài báo của chúng tôi. Ở đây, chúng tôi muốn trả lời những quan tâm của người duyệt như sau). Một câu như thế sẽ làm cho người duyệt bài thấy công lao mình bỏ ra không ... phí.
Ngay cả khi người duyệt bài khen bài báo, tác giả cũng cần nên trả lời. Trong trường hợp được khen, tác giả chỉ cần viết một cách ngắn gọn như “We appreciate the reviewer’s positive comment on our work. We also think that the work is a meaningful contribution to the literature” (Chúng tôi ghi nhận bình luận tích cực của bạn. Chúng tôi cũng nghĩ rằng công trình này thể hiện một đóng góp có ý nghĩa vào y văn).
Qui tắc 2: trả lời một cách lịch sự. Nên nhớ rằng tất cả các chuyên gia duyệt bài làm việc hoàn toàn tình nguyện, họ không nhận một thù lao hay đồng lương nào cả. Họ phải bỏ khá nhiều thì giờ để đọc, đối chiếu và viết bình luận. Ngoại trừ một số nhỏ (có thể rất nhỏ) chuyên gia hẹp hòi và tỏ ra ấu trĩ, phần lớn các chuyên gia là đồng nghiệp đều có nhã ý giúp đỡ chứ không phải đả phá.
Tác giả có quyền bất đồng ý kiến với người duyệt bài, nhưng cách biểu hiện bất đồng ý kiến sao cho người duyệt bài cảm thấy mình được trân trọng. Tác giả cần phải tránh thái độ (hay tỏ ra) ngạo mạn, phách lối, và tuyệt đối không được xúc phạm. Tránh những câu như “We totally disagree” (chúng tôi hoàn toàn bất đồng ý kiến), hay “The reviewer obviously does not know this field” (người duyệt bài hiển nhiên không am hiểu lĩnh vực này). Thay vì viết như thế, tác giả có thể viết lịch sự hơn như we agree with the reviewer …, but (chúng tôi đồng ý với người duyệt, nhưng …). Sau đây là một số câu thông thường cho tình huống bất đồng ý kiến:
- We agree with the reviewer that …, but
- The reviewer is correct to point out …, yet
- In accordance with the reviewer’s suggestions, we have now changed this sentence to read …
- While we agree with the reviewer that …
- It is true that …, but
- We acknowledge that our paper might have been …, but
- We too were disappointed by the …, but
- We agree that this is an important area that requires further work …
- We support the reviewer’s assertion that …, although
- With all due respect to the reviewer, we felt that this point is not consistent with current data …
| “6. It is stated that the ELISA cannot determine 25(OH)D2. I agree
this is unlikely to be a significant confounder of the analysis.
However in the discussion it is then stated without showing data that
25(OH)D2 was present in less than 10% sera. How was this ascertained if
the ELISA could not detect it?” Response: The 10% figure was quoted from a previous study. We have now provided the reference: Saenger AK, Laha TJ, Bremner DE, Sadrzadeh SM. Quantification of serum 25-hydroxyvitamin D(2) and D(3) using HPLC-tandem mass spectrometry and examination of reference intervals for diagnosis of vitamin D deficiency. Am J Clin Pathol 2006;125:914-20 |
Các chuyên gia bình duyệt không phải là Thượng đế, mà cũng là con người bình thường như chúng ta. Thỉnh thoảng, họ không có thì giờ đọc bản thảo một cách cẩn thận, và họ có thể có nhận xét sai. Trong thực tế, điều này xảy ra không phải là hiếm. Trong trường hợp đó, tác giả không nên trả lời mỉa mai như “If the reviewer had bothered to read our paper …” (Nếu người duyệt bài chịu khó đọc bài báo của chúng tôi …) vì cách viết như thế sẽ được hiểu là trẻ con, và rất dễ làm cho người duyệt bài nổi nóng bác bỏ bài báo (họ cũng chỉ là con người với tham sân si). Thay vì trả lời mỉa mai, tác giả nên trả lời một cách “cao thượng” hơn như “We agree that this is an important issue, and we have already addressed it on page A, paragraph B, line C” (Chúng tôi đồng ý đây là điểm quan trọng, và chúng tôi cũng đã đề cập đến ở trang A, đoạn văn B, dòng C).
Thỉnh thoảng cũng có vài chuyên gia bình duyệt tỏ ra mất lịch sự và ấu trĩ. Những chuyên gia này thường muốn tỏ ra rằng họ có kiến thức, xem thường người đồng nghiệp khác để tự nâng họ lên, hay đưa ra những nhận xét châm biếm, hạ thấp tác giả, v.v. Đó là những thái độ cực kì thiếu chuyên nghiệp (unprofessional) và có thể nói là … vô giáo dục (uneducated). Trong trường hợp đó, tác giả không cần phải trả lời người duyệt bài (vì trả lời là tỏ ra mình quan tâm đến họ), mà viết riêng cho tổng biên tập, chỉ ra những thái độ ấu trĩ, những nhận xét thiếu tính chuyên nghiệp, và đề nghị không cho người đó nhận xét bất cứ bài báo nào trong tương lai. Tổng biên tập và ban biên tập cũng hiểu được vấn đề, nên họ thường tìm một chuyên gia khác “trưởng thành” hơn và chuyên nghiệp hơn. Trong thực tế, tôi đã từng thay mặt một nhóm tác giả Việt Nam phàn nàn một chuyên gia duyệt bài cho một tập san y khoa khi người này tỏ thái độ xem thường đồng nghiệp Việt Nam.
Cần nhớ rằng khi ban biên tập cho tác giả cơ hội trả lời bình duyệt thì điều đó có nghĩa là bài báo có cơ hội cao được công bố, với điều kiện tác giả trả lời hết những câu hỏi hay nhận xét của người duyệt bài. Do đó, tác giả không nên bỏ lỡ cơ hội này. Nếu tác giả trả lời không đầy đủ, hay khiếm nhã, hay tránh né vấn đề, thì xác suất bài báo bị từ chối sẽ rất cao. Trong thực tế, tôi cũng đã gặp nhiều trường hợp tác giả trả lời một cách hời hợt, và trong những trường hợp đó, tôi trả lại bài báo cho tác giả và đề nghị họ tìm một tập san khác. Tuỳ tập san, nhưng đối với những tập san tầm trung như JBMR, khoảng 50% bài báo bị trả về mà không cần gửi ra bình duyệt, sau khi bình duyệt khoảng 45% vẫn có thể bị từ chối, và ngay cả sau khi bình duyệt và trả lời, xác suất bị từ chối là khoảng 5%. Do đó, tác giả không nên bỏ sót bất cứ một chi tiết nhỏ nào trong khi trả lời.
Nói tóm lại, trả lời những nhận xét của các chuyên gia bình duyệt là một qui trình “give and take” (cho và nhận). Cho ý kiến và quan điểm của mình. Tiếp nhận ý kiến của người duyệt bài. Bí quyết để thành công trong văn bản trả lời chuyên gia bình duyệt là phải làm sao để người duyệt bài họ thấy mình được tôn trọng và ý kiến của họ được đánh giá cao. Để đạt được yêu cầu đó, xin nhắc lại 3 qui tắt trả lời: đầy đủ, lịch sự, và có chứng cứ.
N.V.T
TB. Nhân đây tôi cũng xin tạ lỗi cùng một nghiên cứu sinh N vì đã không giúp đỡ em đến nơi đến chốn. Đơn giản là vì tôi bận quá, và nếu sửa thì phải sửa lại gần như toàn bộ, mà kiến thức chuyên ngành của tôi thì không đủ. Mới sửa được phần đầu thì bận bịu đi đây đi đó nên trôi dần theo thời gian. Hi vọng em đã xong bài báo.
Nguồn: nguyenvantuan.net
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Một trong những khó khăn và hơi tế nhị của người mới bắt đầu việc công bố quốc tế hay xuất bản khoa học là viết thư. Có hai loại thư để viết: thư đệ trình (cover letter) và thư xin tài liệu. Rất nhiều lần giảng ở trong nước, nhiều bạn hỏi tôi làm sao viết thư xin bài báo khoa học từ tác giả, và viết thư đệ trình bài báo cho tập san khoa học như thế nào. Tôi hứa sẽ giúp các bạn, và hôm nay tôi thực hiện lời hứa đó.






